KINH THIÊN-ĐẠO VÀ THẾ-ĐẠO

 
 

 

ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ
TÒA THÁNH TÂY NINH

 

KINH
THIÊN-ĐẠO VÀ THẾ-ĐẠO

 

Hội Thánh Giữ Bản Quyền

Ấn-hành năm ẤT-MÃO 1975

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

TỰA

Từ khi mở Đạo, CHÍ-TÔN duy giáng cơ truyền cho Phật-giáo, Minh-Sư, Minh-Đường, Minh-Lý dạy dâng kinh cho Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, song kinh Tận-Độ vong-linh chưa hề giáng cơ cho nơi nào tất cả.

Đức Quyền Giáo-Tông (khi còn tại thế) và Đức Hộ-Pháp, trót mười năm trường nghĩa là từ ngày mở Đạo, đã nhiều phen dâng sớ cho Đại Từ-Phụ và các Đấng Thiêng-Liêng đặng xin kinh Tận-Độ, nhưng mà CHÍ-TÔN cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật vẫn chưa định ban ân cho toàn sanh chúng.

Mãi đến ngày 23 tháng 7 tới mùng 4 tháng 8 Ất Hợi (Dl, 21 đến 31-8-1935) mới giáng cho Tân-Kinh. Ấy là một giọt nước Cam-Lộ của Đức Từ-Bi rưới chan đặng gội nhuần cho các đẳng linh-hồn của toàn Thế-Giới.

Chúng ta thầm xét thì đủ hiểu rằng: Đã trải qua mười năm CHÍ-TÔN mới mở cơ tận-độ. Cơ tận độ nhơn-sanh duy kể từ ngày ban Tân-Kinh nầy mà thôi.

Thương thay cho những kẻ vô phần chịu phận thiệt thòi qui-liễu trước ngày Tân-Kinh chuyển Pháp. Ấy cũng là quả kiếp của Nhơn-sanh do Thiên-Thơ tiền định. Nếu chúng ta thương tưởng thì duy có một phương độ-rỗi là trì tụng Di-Lặc Chơn-Kinh hầu các đẳng linh-hồn đặng siêu-thăng Tịnh-độ.

Ấy vậy, bổn kinh nầy nguyên của chư Phật, chư Tiên đã giáng-cơ truyền thế trong kỳ Trung-Ngươn Ất-Hợi.

Khi tụng phải thành-tâm và phải để nơi tinh-khiết.

Hội-Thánh kính-cáo

 


 

TIỂU-DẪN

CÁCH THỜ-PHƯỢNG VÀ CÚNG-KIẾNG

Lập vị THƯỢNG ĐẾ thì phải lựa nơi nào cho tinh-khiết, tốt hơn hết là giữa nhà, lập tran thờ cho cao và treo màn cho khuất chỗ thờ phượng.

      1      
  3   2   4  
5   6 7 8   9
    10 11 12    

      1- Thánh-Tượng THIÊN-NHÃN
      2- Đèn Thái-Cực
      3- Trái cây
      4- Bông
      5- Nước trà (để bên hữu ấy là ÂM)
      6- 7- và 8- Ba ly rượu
      9- Nước trắng (để bên tả ấy là DƯƠNG)
      10- và 12- Hai cây đèn
      11- Lư hương

Bông chỉ về TINH, Rượu chỉ về KHÍ, Trà chỉ về THẦN.

TINH, KHÍ, THẦN là Tam-Bửu của các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Thời TÝ, NGỌ cúng rượu.

Thời MẸO, DẬU cúng nước ÂM DƯƠNG.

Khi cúng THẦY phải đốt cho đủ 5 cây hương cắm hàng trong ba cây gọi là: ÁN TAM-TÀI, thêm hàng ngoài hai cây nữa gọi là: TƯỢNG NGŨ KHÍ.

 

Bàn thờ HỘ-PHÁP

      1      
  2       3  
4   5 6 7   8
  10   9   11  

      1- Tượng thờ viết chữ KHÍ
      2- Trái cây
      3- Bông
      4- Nước trà
      5- 6- và 7- Ba ly rượu
      8- Nước trắng
      9- Lư hương
      10- và 11- Hai cây đèn

Bàn thờ Hộ Pháp duy thờ nơi Thánh-Thất mà thôi. Mỗi khi cúng Tứ-Thời thì đốt ba cây hương.

 

CÁCH LẠY

Chấp hai tay lại như cách dưới đây:

Tay trái bắt ẤN TÝ (1), rồi nắm lại. Kế đó, bàn tay mặt áp ngoài, rồi ngón cái (tay mặt) xỏ vô giữa ngón cái và ngón trỏ bên tay trái.

Để hai tay như vậy mà đưa lên trán, xá sâu ba xá rồi quì xuống đưa tay lên trán như trước mà niệm "Nam-mô Phật"; đưa qua bên trái niệm "Nam-mô Pháp"; đưa qua bên mặt niệm "Nam-mô Tăng", rồi để ngay ngực mà niệm:

"Nam-mô Cao-Đài Tiên-Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát. (gật đầu)

"Nam-mô Quan-Thế-Âm Bồ-Tát Ma-Ha-Tát.

"Nam-mô Lý Đại Tiên-Trưởng kiêm Giáo-Tông Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.

"Nam-mô Hiệp-Thiên Đại-Đế Quan-Thánh Đế-Quân.

"Nam-mô chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần."

Mỗi lần lạy Trời thì lạy: Một lạy gật đầu bốn cái, làm như vậy cho đủ ba lạy là 12 gật (nhớ mỗi gật phải niệm "Nam-mô Cao-Đài...")

Còn lạy Phật và Tiên thì ba lạy, mỗi lạy gật đầu ba cái là 9 gật.

Khi lạy thì 2 bàn tay trải ra và hai ngón cái phải gát tréo nhau.

(1) Bắt Ấn Tý nghĩa là: Bấm đầu ngón tay cái vào gốc ngón tay áp út.

 

CÚNG ĐÀN

Nơi Thánh-Thất nhằm kỳ Vía lớn hoặc ngày Sóc-Vọng mới cúng Đại-Đàn, còn kỳ dư thì thiết Tiểu-Đàn dầu cho có làm tuần-tự chi cũng vậy.

Mỗi kỳ Đại-Đàn thì đánh 3 hiệp Lôi-Âm-CổBạch-Ngọc-Chung, mỗi hiệp 12 hồi, mỗi hồi 12 dùi, đánh Ngọc-Hoàng-Sấm, có nhạc lễ.

Tiểu-Đàn không có đánh trống, duy có kệ chuông mà thôi.

Khi sửa-soạn cúng, đánh chuông nhất, kệ 3 câu, hễ dứt mỗi câu đánh một tiếng chuông lớn.

Chừng nhập Đàn, đánh chuông nhì, kệ 3 câu, hễ dứt mỗi câu đánh một tiếng chuông lớn.

Lúc cúng rồi, kệ 3 câu, dứt mỗi câu câu đánh một tiếng chuông lớn, kế xá bãi Đàn.

Nơi nhà Đạo-Hữu, trước khi sửa soạn cúng Tứ Thời thì đánh ba tiếng chuông, lúc cúng rồi cũng đánh ba tiếng là đủ, chớ không có kệ.

 

TRAI KỲ

Nhập-môn rồi phải tập trai-giới, ban đầu ít nữa phải giữ lục-trai, lần lần tập đến thập-trai, như trường-trai được lại càng tốt.

Lục-trai: Là ăn chay ngày 1, 8, 14, 15, 23, và 30 (như tháng thiếu thì ăn ngày 29 thế cho bữa 30).

Thập-trai: Là ăn chay ngày mồng 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, và 30 (tháng thiếu ăn thêm ngày 27).

Vị nào giữ được thập-trai đổ lên thì sau khi qui-liễu, được Hội-Thánh đến làm phép xác, y như lời Thầy đã tiên tri: "Ai giữ trai kỳ từ 10 ngày sắp lên, được thọ-truyền bửu-pháp".

 

CÁCH THIẾT LỄ MỖI NGHI TIẾT
"Cầu hồn khi hấp-hối và cầu hồn khi đã chết rồi"

Dầu nhằm giờ cúng "Tứ-Thời" hay không cũng phải thiết-lễ cúng Thầy trước. Cúng rồi thì tịnh tâm vái Thầy đặng tụng KINH CẦU-HỒN cho Đạo-Hữu trong khi hấp-hối hay vừa qui-liễu.

Rồi vị chứng đàn đến đứng phía trước đầu bịnh nhơn, nếu có đồng-nhi thì sắp hàng hai bên từ phía trên sắp xuống.

Vị chứng đàn đứng giữa tịnh thần nghiêm-trang và kêu người bịnh hấp-hối, dầu dứt hơi rồi cũng vậy mà nói rằng:

"Tôi vâng lịnh Đức Chí-Tôn đến tụng kinh cho linh-hồn Đạo-Hữu (1) nhẹ nhàng siêu-thăng Tịnh-độ, vậy Đạo-Hữu phải tịnh Thần mà nghe và phải cầu nguyện nơi Đức Chí-Tôn ban ơn lành cho".

Kế tụng kinh CẦU-HỒN KHI HẤP-HỐI (3 lần) mỗi khi dứt phải cúi đầu và niệm câu chú của Thầy (3 lần).

Còn như bệnh-nhơn vừa tắt hơi thì tụng kinh KHI ĐÃ CHẾT RỒI (ba lần).

(1) Lời dặn: Cầu hồn cho Chức-sắc thì kêu Thánh-danh hay là Hiền-Huynh.

 

TẨN-LIỆM

Cách thể nghi-tiết làm cũng như cầu hồn vậy, nghĩa là phải cúng Thầy trước, rồi đến chỗ người chết nằm, tụng kinh TẨN-LIỆM (3 lần). Tụng rồi thì Tang-chủ lạy vong-linh, nghĩa là lạy xác rồi mới tẩn-liệm.

 

CẦU-SIÊU

Đương lúc làm phép xác, phải tụng kinh:

"Đầu vọng bái Tây-Phương Phật-Tổ
A-Di-Đà Phật độ chúng dân v.v..."

(Rồi tụng tiếp bài kinh "Khi Đã Chết Rồi")

"Ba mươi sáu cõi Thiên Tào
Nhập trong Bát-Quái mới vào Ngọc-Hư..."

Tụng như vậy ba lần, mỗi lần dứt phải cúi đầu.

Sau rốt hết phải niệm câu chú của Thầy (3 lần). Tiếp tụng DI-LẶC CHƠN-KINH.

Những nhà ở xa Thánh-Thất, không thể đến làm phép xác được, thì sau khi tẩn-liệm, lập một bàn thờ vong trước linh-cữu, rồi vị chứng đàn cầu nguyện Thầy (1) đặng thỉnh vong đến trước Điện tiền (2) và cũng tụng như trên đây vậy.

(1) Lên nhang đèn tử-tế, không có đọc kinh cúng TỨ THỜI. Vị chứng đàn phải Chức-sắc Thiên-phong hay là Chức-Việc Chánh, Phó Trị-Sự hoặc Thông-Sự. Phải có 2 vị Chức-Sắc hay là Chức-Việc nhỏ hơn vị chứng đàn, cầm 2 cây đèn cầy đứng hai bên.
(2) Nơi Điện-tiền, sau chỗ vị chứng đàn phải để trống một chỗ, nghĩa là cho vong quì cúng Thầy và nghe tụng kinh.
Hành lễ nơi Thánh-Thất thượng sớ kêu Điện-tiền còn nơi tư-gia thì kêu Thiên Bàn.

 

THÀNH-PHỤC

Cúng Thầy trước, có thượng sớ, rồi cúng Thành-Phục (làm theo lễ Nho).

Cúng Triêu, Tịch cũng làm lễ NHO.

 

ĐƯA LINH-CỮU

Cúng Thầy trước, rồi làm lễ cáo-từ Tổ. Khi làm lễ cáo-từ Tổ thì tụng KINH CẦU TỔ-PHỤ (3 lần) và tiếp tụng KINH CỨU-KHỔ (3 lần) hễ dứt thì niệm câu chú của thầy (3 lần). Kế làm lễ Khiển-Điện, làm lễ NHO.

Xong rồi cho Đao-Tỳ nhập bái quan (1). Hễ phát-hành Đồng-Nhi tụng bài KINH ĐƯA LINH CỮU ra tới huyệt.

Khi di linh-cữu ra ngoài đàng thì sắp đặt như sau nầy:

    1. Bảng Đại-Đạo.

    2. Hễ là Tín-Đồ tới Lễ-Sanh thì cây phướn của THƯỢNG-SANH đi trước, còn hàng Chức-sắc từ Giáo-Hữu đổ lên thì cây phướn THƯỢNG-PHẨM đi trước (hai cây phướn THƯỢNG-SANH THƯỢNG-PHẨM ấy thế cho tấm triệu).

    3. Bàn thờ vong.

    4. Đồng-nhi đi hai hàng (Nam tả, Nữ hữu).

    5. Linh-cữu.

    6. Tang-chủ đi kế sau linh-cữu.

    7. Nữ-phái.

    8. Nam-phái chót hết.

(1) Giảm bớt cách tập đi lộn hàng, móc ruột, chỉ sắp hàng đôi ở ngoài đi vô cho có hàng ngũ. Khi vào bái quan rồi, lạy bốn lạy như thường là đủ.

 

HẠ- HUYỆT

Khi ra tới huyệt thì vị chứng Đàn và Đồng-nhi đứng trước đầu huyệt tụng kinh Hạ-Huyệt (3 hiệp), mỗi hiệp cúi đầu, mãn hiệp thứ ba liền tụng ba biến Vãng-Sanh Thần-Chú. Hễ dứt thì niệm câu chú của Thầy (3 lần).

 

LÀM TUẦN CỬU

Từ Nhứt-cửu tới Cửu-cửu, kỳ nào cũng phải cúng Thầy trước (cúng Tiểu đàn) có dâng Tam-Bửu và thượng sớ, song không có lễ-nhạc.

Khi cúng Thầy rồi, thỉnh linh-vị đến trước Điện-tiền, tụng bài kinh khai-cửu, rồi tiếp tụng kinh nhứt hoặc nhị-cửu (tụng như vậy cho đủ ba hiệp). Đến khi dứt thì niệm câu chú của Thầy (3 lần) và lạy 12 lạy.

Mỗi tuần cửu phải quì tụng DI-LẶC CHƠN-KINH nơi trước Bửu-Điện. Hễ dứt hiệp thì niệm mỗi vị Phật và lạy một lạy.

Sau rốt hết niệm câu chú của Thầy (3 lần) và lạy 12 lạy.

Tụng nhiều chừng nào tốt chừng nấy, song mỗi hiệp tụng ba người đến 6 người cho ăn rập nhau.

 

TIỂU-TƯỜNG
(200 ngày)

Đếm đủ 200 ngày kể từ ngày làm tuần cửu-cửu rồi mới làm lễ Tiểu-Tường.

Cách thể nghi-tiết thì cũng làm y như làm tuần cửu-cửu vậy, nghĩa là cúng Tiểu-Đàn có dâng Tam-Bửu và thượng sớ, rồi thỉnh linh-vị đến trước Điện-tiền, tụng kinh KHAI TIỂU-TƯỜNG kế tiếp tụng KINH TIỂU-TƯỜNG (tụng như vậy cho đủ 3 hiệp). Đến khi dứt thì niệm câu chú của Thầy (3 lần) và lạy 12 lạy.

Tụng DI-LẶC CHƠN-KINH.

Còn sự cúng vong thì nên cúng nơi nhà thờ tiền vãng, làm lớn hay nhỏ tùy sức tang-chủ phải thương-lượng trước với Lễ-Viện.

 

ĐẠI-TƯỜNG
(300 ngày)

Đếm đủ 300 ngày kể từ ngày làm Tiểu-Tường rồi mới làm Đại-Tường.

Nghi lễ cách làm cũng y như Tiểu-Tường vậy nhưng trước hết phải tụng KINH KHAI ĐẠI-TƯỜNG rồi tiếp tụng KINH ĐẠI-TƯỜNG (tụng như vậy cho đủ 3 hiệp) đến khi dứt thì niệm câu chú của Thầy (3 lần) và lạy 12 lạy.

Tụng DI-LẶC CHƠN-KINH.

Đại-Tường mãn tang, lễ Trừ-phục, cúng vong làm lễ NHO.

 

CẦU-HỒN VÀ CẦU-SIÊU
cho người chưa Nhập-Môn cầu Đạo

Những người chưa nhập-môn cầu Đạo, chẳng luận giàu sang hay nghèo hèn, già cả hay trẻ bé, cùng đã có nhập-môn rồi bị sa-ngã bỏ Đạo, mà đến giờ chót của người biết hồi-tâm tin tưởng Đức CHÍ-TÔN, hay là người chết rồi mà thân-tộc người tin-tưởng Đức CHÍ-TÔN, đến rước chúng ta cầu-hồn cùng là cầu-siêu thì chúng ta cũng nên thi-ân giúp đỡ linh-hồn ầy siêu-thoát. Ấy là một điều phước-đức độ linh-hồn con cái của Đức CHÍ-TÔN y theo Chơn-Truyền tận-độ.

Song cách thể hành Đạo, Chức-sắc và Chức-việc phải làm y như vầy:

  1. Về việc cầu-siêu, nếu gần Thánh-Thất thì cầu-siêu nơi Thánh-Thất.

  2. Nếu ở xa Thánh-Thất thì thiết lễ cầu-siêu nơi nhà Chức-sắc hoặc Chức-việc gần đó.

  3. Nếu người trong thân chịu nhập-môn thì dễ hơn. Chức-việc cứ thượng Tượng cho nhập-môn rồi thiết lễ tang sự luôn.

  4. Về việc cầu-hồn làm tại nhà tang-chủ.

Cầu hồn thì duy tụng bài KINH CẦU-SIÊU.

"Đầu vọng bái Tây-Phương Phật-Tổ
A-Di-Đà Phật độ chúng dân v.v..."

Tối lại cả Đạo-hữu và gia-quyến của người lâm chung phải thành tâm tụng DI-LẶC CHƠN-KINH cho tới ngày di linh-cữu.

Điều trọng-yếu hơn hết là trọn tang-môn phải giữ trai-giới trong mấy ngày linh-cữu còn tại tiền thì mới làm bạt-tiến cho linh-hồn giải-thoát đặng.

 

CÁCH NHẬP-ĐÀN HÀNH LỄ CÚNG PHẬT-MẪU

Khi nhập Đàn cúng Phật-Mẫu, thì cũng chấp tay bắt Ấn Tý xá 3 xá, quì xuống để tay lên trán niệm:

  • Nam-mô Diêu-Trì Kim-Mẫu Vô-Cực Thiên-Tôn (cúi đầu).

  • Nam-mô Cửu-Vị Tiên-Nương (cúi đầu).

  • Nam-mô Bạch-Vân-Động Chư Thánh (cúi đầu).

(chớ không có lấy dấu Phật, Pháp, Tăng...)

Lúc lạy thì niệm "Nam-mô Diêu-Trì Kim-Mẫu Vô-Cực Thiên-Tôn" (3 lạy, mỗi lạy 3 gật / 9 lạy/)

 


 

KINH THIÊN-ĐẠO

 

KINH CÚNG TỨ-THỜI

NIỆM HƯƠNG

(Giọng Nam-Ai)

    Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp,
Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra.
      Mùi hương lư ngọc bay xa,
  Kính thành cầu-nguyện Tiên-gia chứng lòng.
    Xin Thần, Thánh ruổi-dong cỡi hạc,
Xuống phàm-trần vội gác xe Tiên.
      Ngày nay Đệ-tử khẩn-nguyền,
  Chín tầng Trời, Đất thông truyền chứng tri.
    Lòng sở vọng gắng ghi đảo-cáo,
Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành.
       
Niệm:   "Nam-mô Cao-Đài Tiên-Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát" (12 lạy)

 

KHAI KINH

(Giọng Nam-Ai)

    Biển trần khổ vơi vơi Trời nước,
Ánh Thái-Dương giọi trước phương đông.
      Tổ-Sư Thái-Thượng Đức Ông,
  Ra tay dẫn độ, dày công giúp Đời.
    Trong Tam-Giáo có lời khuyến dạy,
Gốc bởi lòng làm phải làm lành.
      Trung-Dung Khổng-Thánh chỉ rành,
  Từ-Bi Phật dặn: Lòng thành lòng nhơn.
    Phép Tiên-Đạo: Tu chơn dưỡng tánh,
Một cội sanh ba nhánh in nhau.
      Làm người rõ thấu lý sâu,
  Sửa lòng trong sạch tụng cầu Thánh-Kinh. (gật đầu)

 

KINH NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ

(Giọng Nam-Xuân)

    Đại-La Thiên-Đế
Thái-Cực Thánh-Hoàng

Hóa dục quần sanh
Thống-ngự vạn-vật.
  Diệu-diệu "Huỳnh-Kim-Khuyết".
Nguy-nguy "Bạch-Ngọc-Kinh".
    Nhược thiệt, nhược hư,
  Bất ngôn nhi mặc tuyên đại hóa.
    Thị không, thị sắc,
  Vô-vi nhi dịch sử quần-linh.
    Thời thừa lục long,
Du hành bất tức.
Khí phân Tứ Tượng,
Hoát triền vô biên.
Càn kiện cao minh,
  Vạn loại thiện ác tất kiến,
    Huyền phạm quảng đại.
  Nhứt toán họa phước lập phân.
Thượng chưởng Tam thập lục Thiên,
    Tam Thiên Thế Giái.
  Hạ ốc Thất thập nhị Địa,
    Tứ Đại Bộ-Châu.
  Tiên-Thiên Hậu-Thiên.
Tịnh dục Đại-Từ-Phụ.
    Kim ngưỡng, cổ ngưỡng,
  Phổ-Tế Tổng-Pháp-Tông.
Nãi Nhựt, Nguyệt, Tinh, Thần chi quân,
Vi Thánh, Thần, Tiên, Phật chi chủ.
    Trạm tịch chơn Đạo,
Khôi mịch tôn nghiêm
Biến-hóa vô cùng,
  Lũ truyền Bửu-Kinh dĩ giác thế,
    Linh oai mạc trắc,
  Thường thi Thần giáo dĩ lợi sanh.
    Hồng oai, Hồng từ,
Vô cực, vô thượng.
  Đại-Thánh, Đại-Nguyện, Đại-Tạo, Đại-Bi.
Huyền-Khung Cao Thượng-Đế,
    Ngọc-Hoàng tích phước hựu tội,
Đại Thiên-Tôn.
       
Niệm:   "Nam-mô Cao-Đài Tiên-Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát" (12 lạy)

 

THÍCH-GIÁO
Nhiên-Đăng Cổ-Phật chí tâm qui mạng lễ

(Giọng Nam-Xuân)

    Hỗn-Độn Tôn-Sư,
Càn-Khôn Chủ-Tể.

Qui Thế-Giái ư nhứt khí chi trung,
Ốc trần-huờn ư song thủ chi nội.
Huệ đăng bất diệt,
Chiếu Tam-thập-lục Thiên, chi quang-minh.
Đạo pháp trường lưu,
Khai cửu-thập-nhị Tào chi mê-muội.
Đạo cao vô-cực,
Giáo xiển hư-linh.
Thổ khí thành hồng,
Nhi nhứt trụ xang thiên.
Hóa kiếm thành xích,
Nhi tam phân thác địa,
Công tham Thái-cực,
Phá nhứt khiếu chi huyền quang,
Tánh hiệp vô-vi.
Thống tam-tài chi bí chỉ,
Đa thi huệ trạch,
Vô lượng độ nhơn
Đại Bi Đại Nguyện,
Đại-Thánh Đại Từ,
Tiên-Thiên Chánh Đạo
Nhiên-Đăng Cổ-Phật
Vô-vi Xiển-giáo Thiên-Tôn.
       
Niệm:   "Nam-mô Nhiên-Đăng Cổ-Phật Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát " (9 lạy)

 

TIÊN-GIÁO
Thái-Thượng chí tâm qui mạng lễ

(Giọng Nam-Xuân)

    Tiên-thiên khí hóa.
Thái-Thượng Đạo-Quân,
Thánh bất khả tri,
Công bất khả nghị.
Vô-vi cư Thái-cực chi tiền.
Hữu thỉ siêu quần chơn chi thượng
Đạo cao nhứt khí
Diệu hóa Tam Thanh
Đức hoán hư linh,
Pháp siêu quần thánh
Nhị ngoạt thập ngũ
Phân tánh giáng sanh;
Nhứt thân ức vạn,
Diệu huyền thần biến
Tử khí đông lai,
Quảng truyền đạo đức.
Lưu sa tây độ,
Pháp hóa tướng tông;
Sản Tất-Viên, Phương-Sóc chi bối.
Đơn tích duy mang.
Khai Thiên Địa nhơn-vật chi tiên,
Đạo kinh hạo kiếp,
Càn-khôn hoát vận.
Nhựt nguyệt chi quang.
Đạo pháp bao la,
Cửu hoàng tỉ tổ.
Đại-Thiên Thế-Giái,
Dương tụng từ ân.
Vĩnh kiếp quần sanh,
Ngưỡng kỳ huệ đức.
Đại-Thần Đại-Thánh
Chí cực chí tôn
Tiên-Thiên chánh nhứt.
Thái-Thượng Đạo-Quân.
Chưởng-Giáo Thiên-Tôn.
       
Niệm:   "Nam-mô Thái-Thượng Đạo-Tổ Tam-Thanh Ứng-Hóa Thiên-Tôn" (9 lạy)

 

NHO-GIÁO
Khổng-Thánh chí tâm qui mạng lễ

(Giọng Nam-Xuân)

    Quế hương nội điện.
Văn-Thỉ thượng cung.
Cửu thập ngũ hồi
Chưởng thiện quả ư thi thơ chi phố.
Bá thiên vạn hóa,
Bồi quế thọ ư âm-chất chi điền.
Tự lôi trữ bính linh ư phụng lãnh,
Chí như ý từ, tường ư ngao trụ.
Khai nhơn-tâm tất bổn ư đốc thân chi hiếu.
Thọ quốc mạch tất tiên ư trí chúa chi trung.
Ứng mộng bảo sanh, Thùy từ mẫn khổ,
Đại Nhơn, Đại Hiếu, Đại Thánh, Đại Từ.
Thần văn, Thánh võ, Hiếu đức trung nhơn.
Vương-Tân sách phụ,
Nho-Tông khai hóa,
Văn-Tuyên Tư -Lộc,
Hoằng nhơn Đế-quân.
Trừng chơn chánh quang.
Bửu-Quang từ tế Thiên-Tôn.
       
Niệm:   "Nam-mô Khổng-Thánh Tiên-Sư Hưng-Nho Thạnh-Thế Thiên-Tôn" (9 lạy)

 

BÀI DÂNG HOA

(Thài theo giọng Đảo Ngũ Cung)

    Từ-Bi giá ngự rạng môn thiền,
Đệ-tử mừng nay hữu huệ duyên.
Năm sắc hoa tươi xin kỉnh lễ,
Cúi mong Thượng-Đế rưới ân Thiên. (1)
      (1 lạy 4 gật)
       

(1) Khi cúng Phật-Mẫu thì đọc:
"Cúi mong Phật-Mẫu rưới ân Thiên." (3 lạy 9 gật)

 

BÀI DÂNG RƯỢU

    Thiên-ân huệ chiếu giáng thiền minh,
Thành kỉnh trường xuân chước tửu quỳnh.
Lạc hứng khấu cung giai miễn lễ,
Thoát tai bá tánh ngưỡng ân sinh.
      (1 lạy 4 gật)

 

BÀI DÂNG TRÀ

    Mai xuân nguyệt cúc vị trà hương,
Kỉnh lễ thành tâm hiến bửu tương.
Ngưỡng-vọng Từ-Bi gia-tế phước,
Khai minh Đại-Đạo hộ thanh-bường.
      (1 lạy 4 gật)

 

NGŨ NGUYỆN

(Giọng Nam-Xuân)

Khi đọc kinh cúng tứ thời rồi, phải nhớ đọc năm câu nguyện sau nầy:

Nam-Mô Nhứt-nguyện:   Đại-Đạo hoằng-khai.
Nhì-nguyện:   Phổ-Độ chúng sanh.
Tam-nguyện:   Xá tội đệ tử.
Tứ-nguyện:   Thiên-hạ thái-bình.
Ngũ-nguyện:   Thánh-Thất an-ninh.
     
Niệm: "Nam-Mô Cao-Đài Tiên-Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát" (12 lạy)

 

PHẬT MẪU CHƠN KINH

(Giọng Nam-Xuân)

    Tạo-Hóa Thiên Huyền-Vi Thiên-Hậu,
Chưởng Kim-Bàn Phật-Mẫu Diêu-Trì.
      Sanh quang dưỡng-dục quần-nhi,
  Chơn-linh phối nhứt thân vi Thánh hình.
    Thiên-Cung xuất Vạn-linh tùng pháp,
Hiệp âm dương hữu hạp biến sanh.
      Càn Khôn sản-xuất hữu hình,
  Bát hồn vận-chuyển hóa thành chúng-sinh.
    Cộng vật-loại huyền-linh đồ nghiệp,
Lập tam-tài định kiếp hòa căn.
      Chuyển-luân định phẩm cao thăng,
  Hư-vô bát-quái trị thần qui nguyên.
    Diệt tục kiếp trần-duyên oan trái,
Chưởng đào tiên thủ giải trường-tồn.
      Nghiệp hồng vận tử hồi môn,
  Chí-công định vị vĩnh-tồn Thiên-Cung.
    Chủ Âm-quang thường tùng Thiên-mạng,
Độ chơn-thần nhứt vãng nhứt lai.
      Siêu thăng phụng liễn qui khai,
  Tiên-Cung Phật xứ Cao-Đài xướng danh.
    Hội nguơn hữu Chí-Linh huấn chúng,
Đại Long-Hoa nhơn chủng hòa Ki. (là cơ)
      Tam-kỳ khai-hiệp Thiên-thi,
  Khoa-môn Tiên-vị ngộ kỳ Phật duyên.
    Trung khổ-hải độ thuyền bát-nhã,
Phước từ-bi giải quả trừ căn.
      Huờn hồn chuyển đọa vi thăng,
  Cửu Tiên hồi phục Kim Bàn chưởng Âm.
    Thập Thiên-Can bao hàm vạn tượng,
Tùng Địa-Chi hóa trưởng càn-khôn.
      Trùng huờn phục vị thiên-môn,
  Nguơn-linh hóa chủng quỉ hồn nhứt thăng.
    Vô siêu đọa quả căn hữu pháp,
Vô khổ hình nhơn kiếp lưu oan.
      Vô địa-ngục, vô quỉ-quan,
  Chí-Tôn đại xá nhứt trường qui-nguyên.
    Chiếu nhũ-lịnh Từ-Huyên thọ sắc,
Độ anh nhi nam, bắc, đông, tây.
      Kỳ khai tạo nhứt Linh-Đài,
  Diệt hình tà-pháp cường khai Đại-Đồng.
    Hiệp vạn-chủng nhứt môn đồng mạch,
Qui thiên-lương quyết sách vận-trù.
      Xuân-Thu, Phất-Chủ, Bát-Vu,
  Hiệp qui Tam-Giáo hữu cầu Chí-Chơn.
    Phục nguyên-nhơn huờn tồn Phật tánh,
Giáo-hóa hồn hữu hạnh hữu duyên.
      Trụ căn quỉ khí cửu-tuyền,
  Quảng khai thiên thượng tạo quyền chí công.
    Lịnh Mẫu-Hậu khai Tông định Đạo,
Ân dưỡng sanh đảm-bảo hồn-hài.
      Càn Khôn Tạo-Hóa sánh tài,
  Nhứt triêu nhứt tịch kỉnh bài mộ khang.
     
  "Nam-mô Diêu-Trì Kim Mẫu Tạo-Hóa Huyền Thiên Cảm Bái"
  "Nam-Mô Đại-Từ-Bi Năng Hỉ-Xả Thiên-Hậu, Chí-Tôn, Đại-Bi Đại-Ái".

 

TÁN-TỤNG CÔNG-ĐỨC DIÊU-TRÌ KIM-MẪU

(Giọng Nam-Ai)

      Kể từ hỗn-độn sơ khai,
  Chí-Tôn hạ chỉ trước đài Linh-Tiêu.
      Lưỡng-nghi phân khí hư-vô,
  Diêu-Trì Kim-Mẫu nung lò hóa sanh.
      Âm-Dương biến tạo chơn-thần,
  Lo cho nhơn vật về phần hữu-vi.
      Mớm cơm vú sữa cũng tay,
  Dưỡng-sanh đùm bọc với tài chí công.
      Xét vì nhơn vật lẽ đồng,
  Chắt-chiu hằng để trọn lòng chung thương.
      Chí mong hòa-hảo âm dương,
  Thuận căn theo lối bước đường vẹn chơn.
      Mẫu-Nghi hằng giữ lòng đơn,
  Mảng lo cho trẻ đặng toàn mảnh thân.
      Riêng thương Kim-Mẫu khóc thầm,
  Biển trần thấy trẻ lạc-lầm bấy lâu.
      Đòi phen Mẹ luống ưu sầu,
  Cũng vì tà-mị dẫn đường con thương.
      Đỉnh chung là miếng treo gương,
  Khiến nên trẻ dại lạc đường quên ngôi.
      Ngọt ngon trẻ nhiễm mến mùi,
  Trẻ nào có biết khúc nôi đoạn-trường.
      Ngồi trông con đặng phi thường,
  Mẹ đem con đến tận đường hằng sanh.
      Xưa con không thấu cội nhành,
  Vì đường Đạo bế biệt cành hoa rơi.
      Từ con cách Mẹ phương Trời,
  Trầm-luân khổ-hải chơi-vơi sóng trần.
      Dầu thương nhắm mắt đưa chơn,
  Giờ nay gặp lối nghiệt trần giảm tiêu.
      Ngọc-Hư định phép cũng nhiều,
  Phái Vàng Mẹ lãnh dắt-dìu trẻ thơ.
      Trước kia trẻ vẫn mịt-mờ,
  Từ đây mới hản ơn nhờ Mẫu-Nghi.
      Đắc truyền khai mối Tam-Kỳ,
  Dưới tay cậy có Diêu-Trì Cửu Nương.
      Chín cô đã sẵn lòng thương,
  Mê tân độ chúng buồm trương thoát vòng.
      Lục-Nương phất phướn truy hồn,
  Tang-thương nay lúc bảo tồn chúng-sanh.
      Bát-Nương thật đấng chí-linh,
  Cùng chung giáo hóa chung cùng lo âu.
      Thất-Nương khêu đuốc Đạo đầu,
  Nhờ Người gọi ánh nhiệm-mầu huyền-vi.
      Môn sanh thiện niệm hằng ngày,
  Cúi xin Kim-Mẫu muôn loài cứu ương.
      Đê đầu khấu bái Nương-Nương,
  Nén hương đạm bạc xin thương chứng lòng.
       
  "Nam-Mô Tạo-Hóa Huyền-Thiên Diêu-Trì Kim Mẫu"
  "Nam-Mô Tạo-Hóa Huyền-Thiên Cửu Vị Nữ-Phật".

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, ấn hành năm Nhâm Thân 1992
... ... ...
Bát-Nương thật đấng chí-linh,
Cùng chung giáo hóa ân cần chung cùng lo âu.
Thất-Nương khêu đuốc Đạo đầu,
Nhờ Người gợi gọi ánh nhiệm-mầu huyền-vi.
... ... ...

 

KINH GIẢI-OAN

(Giọng Nam-Xuân)

    Vòng xây chuyển vong hồn tấn-hóa,
Nương xác thân hiệp ngã Càn-khôn.
      Bước đường sanh tử đã chồn,
  Oan-oan nghiệt-nghiệt dập-dồn trái căn.
    Luật nhơn quả để răn Thánh-đức,
Cửa luân-hồi nhắc bực cao-siêu.
      Dầu chăng phải mực Thiên-điều,
  Cũng quyền tự chủ dắt-dìu thiên-lương.
    Dòng khổ-hải hễ thường chìm đắm,
Mùi đau thương đã thấm chơn-linh.
      Dây oan xe chặt buộc mình,
  Nhớp-nhơ lục dục thất tình nhiễm thân.
    Chịu ô-trược chơn-thần nặng trịu,
Mảnh hình hài biếng hiểu lương-tâm.
      Phong-trần quen thú cung âm,
  Cảnh thăng ngơ-ngẩn lạc-lầm phong-đô.
    Khối trái chủ nhẫng lo vay trả,
Mới gây nên nhân quả nợ đời.
      Rảnh mình đâu đặng thảnh-thơi,
  Thiên cung lỡ lối chơi-vơi cõi trần.
    May đặng gặp hồng-ân chan rưới,
Giải trái-oan sạch tội tiền khiên.
      Đóng địa-ngục, mở tầng Thiên,
  Khai đường Cực-Lạc, dẫn miền Tây-Phương.
    Nhập Thánh-thể dò đường cựu vị,
Noi Chơn-Truyền khử quỉ trừ ma.
      Huệ-quang chiếu thấu chánh tà,
  Chèo thuyền Bát-Nhã Ngân-hà độ sanh.
    Cứ noi bóng CHÍ-LINH soi bước,
Gội mê-đồ tắm nước MA-HA.
      Liên-đài may nở thêm hoa,
  LÃO-ĐAM cũng biết, THÍCH-GIÀ cũng quen.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
     

PHẠM HỘ-PHÁP

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, ấn hành năm Nhâm Thân 1992
... ... ...
Khối trái chủ nhẫng lo vay trả,
Mới gầy gây nên nhân quả nợ đời.
... ... ...
... ... ...
Cứ nương noi bóng CHÍ-LINH soi bước,
Gội mê-đồ tắm nước MA-HA.
... ... ...

 

KINH TẮM-THÁNH

(Giọng Nam-Xuân)

    Những vạn-vật Âm Dương Tạo-Hóa,
Dầu cỏ cây hoa quả biến sanh.
      Con người đứng phẩm tối linh,
  Nửa người nửa Phật nơi mình anh nhi.
    Đại Từ-Phụ Từ-Bi tạo-hóa,
Tượng mảnh thân giống cả Càn-Khôn.
      Vẹn toàn đủ xác đủ hồn,
  Xây cơ chuyển thế bảo-tồn vạn-linh.
    Xin gìn-giữ Thánh hình thanh-bạch,
Xin xá ân rửa sạch tiền khiên.
      Căn xưa ví dữ cũng hiền,
  Dầu ra cửa tội đủ quyền cao-siêu.
    Công nuôi dưỡng nâng-niu khổ nhọc,
Phép thương yêu cũng học nơi Thầy.
      Sanh nơi đây, ở nơi đây,
  Trăm năm là tuổi đủ đầy mạng căn.
    Chốn hồng-trần quen lằn gió bụi,
Cảnh phù-ba may rủi cũng duyên.
      Đã gan dốc kiếm diệu-huyền,
  Sanh sanh là phận, hiền hiền là công.
    Đừng thối chí ngã lòng trở gót,
Để cho đời chua xót tình thương.
      Trăm năm thọ khảo vĩnh-trường,
  Thuận căn thuận mạng đôi đường cao thăng.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
     

NGUYỆT-TÂM CHƠN-NHƠN

 

KINH CẦU HỒN KHI HẤP-HỐI

(Giọng Nam-Ai)

    Rắp nhập cảnh Thiêng-Liêng Hằng-Sống,
Chốn quê xưa giải mộng trần-gian.
      Dìu đường thoát tục nắm phan,
  Trông Kinh Bạch-Ngọc định thần giải căn.
    Diêu-Trì Cung sai nàng Tiên-Nữ,
Phép Lục-Nương gìn-giữ chơn-hồn.
      Tây phương Tiếp-Dẫn Đạo-Nhơn,
  Phướn linh khai mở nẻo đường Lôi-Âm.
    Ớ..(tên họ kẻ qui vị)..thành tâm cầu nguyện,
Nguyện Chí-Tôn linh hiển độ sanh.
      Ăn-năn sám-hối tội tình,
  Xét câu minh-thệ gởi mình cõi thăng.
    Dầu nghiệt-chướng số căn quả báo,
Đừng hãi-kinh cầu-đảo Chí-Tôn.
      Cửa địa-ngục, khá lánh chơn,
  Ngọc-Hư Cực-Lạc đon đường ruổi dong.
    Dầu trọn kiếp sống không nên Đạo,
Dầu oan-gia tội báo buộc ràng.
      Chí-Tôn xá tội giải oan,
  Thánh, Thần, Tiên, Phật, cứu nàn độ vong.
    Kìa chiếu diệu bóng hồng Bắc-Đẩu,
Kìa im-đìm phúc-hậu Nam-Tào.
      Cảnh thăng trổi gót cho mau,
  Xa vòng tục-lự đặng chầu CHÍ-LINH.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
     

NGUYỆT-TÂM CHƠN-NHƠN

 

KINH KHI ĐÃ CHẾT RỒI

(Giọng Nam-Ai)

      Ba mươi sáu cõi Thiên-Tào,
  Nhập trong Bát Quái mới vào Ngọc-Hư.
      Quê xưa trở cõi đọa từ,
  Đoạt cơ thoát tục bấy chừ tuyệt luân.
    Dưới chín lớp liên thần đưa rước,
Trên hồng quang phủ phước tiêu-diêu.
      Linh-Tiêu-Điện, bảng danh nêu,
  Nguyên-căn đẹp vẻ mỹ-miều cao thăng.
    Kinh Bạch-Ngọc muôn lằn điễn chiếu,
Kêu chơn hồn vịn níu chơn-linh.
      Năng lai năng khứ khinh khinh,
  Mau như điễn chiếu nhẹ thành bóng mây.
    Cửa Tây-Phương khá bay đến chốn,
Diệt trần tình vui hưởng tiêu-diêu.
      Tiên-phong Phật-cốt mỹ-miều,
  Vào kinh Bạch-Ngọc lễ triều CHÍ-LINH.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
     

NGUYỆT-TÂM CHƠN-NHƠN

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, ấn hành năm Nhâm Thân 1992
... ... ...
Dưới chín lớp liên thần đưa bước rước,
Trên hồng quang phủ phước tiêu-diêu.
... ... ...

 

KINH TẪN-LIỆM

(Giọng Nam-Ai)

    Dây oan-nghiệt dứt rời trái-chủ,
Nương huyền-linh sạch giũ thất-tình.
      Càn khôn bước Thánh thượng trình,
  Giải xong xác tục mượn hình Chí-Tôn.
    Khối vật chất vô hồn viết tử,
Đất biến hình tự thử qui căn.
      Đừng vì thân ái nghĩa nhân,
  Xôn-xao thoát khổ xa lần bến mê.
    Hồn Trời hóa trở về Thiên cảnh,
Xác Đất sanh đến lịnh phục hồi.
      Từ từ Cực-Lạc an vui,
  Lánh nơi trược khí hưởng mùi siêu-thăng.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
     

NGUYỆT-TÂM CHƠN-NHƠN

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, ấn hành năm Nhâm Thân 1992
... ... ...
Đừng gìn thân ái nghĩa nhân,
Xôn-xao thoát khổ xa lần bến mê.
... ... ...

 

KINH CẦU SIÊU

(Giọng Nam-Ai)

    Đầu vọng bái Tây Phương Phật-Tổ,
A-Di-Đà Phật độ chúng dân.
Quan-Thế-Âm lân-mẫn ân-cần,
Vớt lê-thứ khổ trần đọa lạc.
Đại-Thánh Địa-Tạng-Vương Bồ-Tát,
Bố Từ-Bi tế-bạt vong hồn.
Cứu khổ nàn Thái-Ất Thiên-Tôn,
Miền âm-cảnh ngục-môn khai-giải.
Ơn Đông-Nhạc Đế-Quân quảng-đại,
Độ kẻ lành chế cải tai ương.
Chốn Dạ-đài Thập-Điện Từ-Vương,
Thấy hình khổ lòng thương thảm-thiết.
Giảm hình phạt bớt đường ly-tiết,
Xá linh-quang tiêu-diệt tiền-khiên,
Đặng nhẹ-nhàng thẳng đến cung Tiên,
Nơi Phước-địa ở yên tu-luyện.
Xin Trời Phật chứng lòng sở-nguyện,
Hộ thương-sanh u hiển khương-ninh. (1)
     

(1) Tụng tiếp bài kinh CẦU HỒN KHI ĐÃ CHẾT RỒI "Ba mươi sáu cõi Thiên-Tào..." vì sợ e cho vong-hồn hoặc là người không tu mà Hội-Thánh mới độ hồn, hoặc Đạo-Hữu phạm thệ mà đi xuống cõi Phong-Đô, nên trước phải tụng bài Kinh Cầu Siêu "Đầu vọng-bái Tây-Phương Phật-Tổ v.v..." hầu cho vong-hồn hồi-dương đặng rồi, thì tụng tiếp bài KINH KHI ĐÃ CHẾT RỒI "Ba mươi sáu cõi Thiên-Tào..." đặng vong-hồn hưởng phép siêu-thăng Tịnh-độ.
Phải tụng xen kẽ như vậy cho đủ 3 lần.... Khi dứt thì niệm câu chú: NAM-MÔ CAO-ĐÀI TIÊN-ÔNG ĐẠI-BỒ-TÁT MA-HA-TÁT (3 lần).

 

KINH ĐƯA LINH CỮU (1)

(Giọng Nam-Ai)

    Cầu các Trấn Thần linh trợ lịnh,
Giữ chơn-hồn xa lánh xác trần.
      Nam-Mô Địa-Tạng thi ân,
  Đưa đường Thiên-cảnh, lánh gần Phong-Đô.
      Nam-Mô Tam-Trấn hư-vô,
  Oai-nghiêm độ rỗi Cao-Đồ qui-nguyên.
      Nam-Mô Tam-Giáo diệu-huyền,
  Tuyệt luân Bát-Nhã đưa thuyền độ vong.
      Nam-Mô Bạch-Ngọc công cồng,
  Thần, Tiên, Thánh, Phật mở vòng trái oan.
      Nam-Mô Thượng-Đế Ngọc-Hoàng,
  Mở cơ tận độ nhẹ-nhàng chơn-linh.
    Cửa Cực-Lạc thinh thinh rộng mở,
Rước vong hồn lui trở ngôi xưa.
      Tòa sen báu vật xin đưa,
  Chơn-linh an ngự cho vừa quả duyên.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
     

NGUYỆT-TÂM CHƠN-NHƠN

     

(1) Đồng-nhi tụng tới chừng hạ-huyệt mới thôi.

 

KINH HẠ HUYỆT

(Giọng Nam-Ai)

    Thức giấc mộng huỳnh-lương vừa mãn,
Tiếng phồn-ba hết thoáng bên tai.
      Giải thi lánh chốn đọa-đày,
  Chơn linh trong sạch ra ngoài Càn-Khôn.
    Phép giải-oan độ hồn khỏi tội,
Phướn tiêu-diêu nắm mối trường-sanh.
      Ơn nhờ hồng-phước Chí-Linh,
  Lôi-Âm tự-toại, Bồng-Dinh hưởng nhàn.
    Nhờ Hậu-Thổ xương tàn gìn-giữ,
Nghĩa CHÍ-TÔN tha thứ tiền-khiên.
      Đưa tay vịn phép diệu-huyền,
  Ngọc-Hư lập vị cửu tuyền lánh chơn.
    Ngó Cực Lạc theo huờn Xá-lợi,
Cửu-Trùng-Thiên mở lối qui-nguyên.
      Rõ-ràng Phật cốt tiền duyên,
  Nước Cam-Lồ rửa sạch thuyền độ nhân.
   

(tụng 3 lần)

     

THƯỜNG CƯ NAM-HẢI QUAN-ÂM NHƯ-LAI

   
  (Tụng kinh nầy rồi tụng tiếp Chú Vãng-Sanh)

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, ấn hành năm Nhâm Thân 1992
... ... ...
Rỡ ràng Rõ-ràng Phật cốt Tiên duyên tiền duyên,
Nước Cam-Lồ rửa sạch thuyền độ nhân.

 

VÃNG SANH THẦN-CHÚ

Nam-mô A-Di-Đa Bà Dạ, Đa Tha Dà Đa Dạ Đa Điệt Dạ Tha, A-Di Rị-Đô Bà-Tì, A-Di Rị-Đa Tất Đam Bà-Tì, A-Di Rị-Đa, Tì-Ca Lan-Đế, A-Di Rị-Đa Tì-Ca-Lan-Đa, Dà Di-Nị-Dà Dà-Na Chỉ-Đa Ca-Lệ Ta-Bà-Ha (3 lần).

       
Rồi niệm câu chú:
  Nam-Mô Cao-Đài Tiên-Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)

 

KINH KHAI CỬU
Đại-Tường và Tiểu-Tường

(Giọng Nam-Xuân)

    Đã quá chín tầng Trời đến vị,
Thần đặng an, Tinh, Khí cũng an.
      Tầng Trời gắng bước lên thang,
  Trông mây nhìn lại cảnh nhàn buổi xưa.
    Cõi thảm khổ đã vừa qua khỏi.
Quên trần-ai mong mỏi Động-Đào.
      Ngó chi khổ-hải sóng xao,
  Đoạn tình yểm dục đặng vào cõi thiên.
    Giọt lụy của Cửu-huyền dầu đổ,
Chớ đau lòng thuận nợ trầm-luân.
      Nắm cây huệ-kiếm gươm thần,
  Dứt tan sự thế nợ trần từ đây. (1)
     
     

THƯỜNG-CƯ NAM-HẢI QUAN-ÂM NHƯ-LAI

       

(1) Mỗi tuần cửu phải tụng bài kinh nầy trước rồi tiếp tụng bài Nhứt Cửu hay Nhị Cửu v.v..., hoặc Tiểu-Tường hay Đại-Tường (tụng 3 lần như vậy)

 

KINH ĐỆ NHẤT CỬU

(Giọng Nam-Xuân)

    Vườn Ngạn-Uyển sanh hoa đã héo,
Khối hình-hài đã chịu rã tan.
      Bảy dây oan-nghiệt hết ràng,
  Bợn trần rửa sạch muôn ngàn đau thương.
    Kìa Thiên-cảnh con đường vòi-vọi,
Ánh Hồng-Quân đương chói Ngọc-Lầu.
      Cung Thiềm gắng bước cho mau,
  Thoát ba Thần phẩm đứng đầu Tam-Thiên.
    Khá tỉnh thức tiền-duyên nhớ lại,
Đoạn cho rồi oan-trái buổi sanh.
      Đem mình nương bóng Chí-Linh,
  Định tâm chí Thánh mới gìn ngôi xưa.
    Hồn định tỉnh đã vừa định tỉnh,
Phách anh-linh ắt phải anh-linh.
      Quản bao thập ác lục hình,
  Giải thi thoát khổ diệt hình đoạn căn.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
     

NHỨT-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, ấn hành năm Nhâm Thân 1992
... ... ...
Quản bao thập ác lục hình,
Giải thi thoát khổ diệt hình đoạt đoạn căn.

 

KINH ĐỆ NHỊ CỬU

(Giọng Nam-Xuân)

    Tây-Vương-Mẫu vườn Đào ướm chín,
Chén trường-sanh có lịnh ngự ban.
      Tiệc hồng đã dọn sẵn-sàng,
  Chơn-Thần khá đến hội hàng chư-linh.
    Đã thấy đủ Thiên-đình huyền pháp,
Cổi giác thân lên đạp Ngân-Kiều.
      Đẩu-Tinh chiếu thấu Nguyên-Tiêu,
  Kim-Quang kiệu đỡ đến triều Ngọc-Hư.
    Khí trong trẻo dường như băng tuyết,
Thần im-đìm dường nét thiều-quang.
      Xa chừng thế-giái Địa-hoàn,
  Cõi Thiên đẹp thấy nhẹ-nhàng cao thăng.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
     

NHỊ-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG

 

KINH ĐỆ TAM CỬU

(Giọng Nam-Xuân)

    Cõi Thanh-Thiên lên miền Bồng-Đảo,
Động Thiên-Thai bảy lão đón đường.
      Cam-Lồ rưới giọt nhành dương,
  Thất tình lục-dục như dường tiêu-tan.
    Cung Đẩu-Tốt (1) nhặt khoan tiếng nhạc,
Đệ lịnh bài cánh hạc đưa linh.
      Tiêu thiều lấp tiếng dục-tình,
  Bờ dương bóng phụng đưa mình nâng thân.
    Cung Như-Ý Lão-Quân tiếp khách,
Hội Thánh-minh giao sách Trường-xuân.
      Thanh quang rỡ rỡ đòi ngàn,
  Chơn hồn khoái-lạc lên đàng vọng Thiên.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
     

TAM-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG

       
 

CHÁNH VĂN Cung Đẩu-Suất

 

KINH ĐỆ TỨ CỬU

(Giọng Nam-Xuân)

    Sắc huỳnh chiếu roi vàng đường hạc,
Cõi Huỳnh-Thiên nhẹ thoát chơn Tiên.
      Năm Rồng đỡ nổi đầu thuyền,
  Vào cung Tuyệt-khổ kiến Huyền-Thiên-Quân.
    Trừ quái khí roi thần chớp-nhoáng,
Bộ Lôi-Công giải tán trược-quang.
      Cửa lầu Bát-Quái chun ngang,
  Hỏa-Tinh Tam-muội thiêu tàn oan-gia.
    Đạp Thái-Sơn nhảy qua Đẩu-Suất,
Định Kim-Câu đến chực Thiên-môn.
      Chơn-thần đã nhập Càn-khôn,
  Thâu quyền độ thế bảo-tồn chúng-sanh.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
     

TỨ-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, ấn hành năm Nhâm Thân 1992
... ... ...
Đạp Thái-Sơn nhảy qua Đẩu-Suất,
Vịn Định Kim-Câu đến chực Thiên-môn.
... ... ...

 

KINH ĐỆ NGŨ CỬU

(Giọng Nam-Xuân)

    Ánh hồng chiếu đường mây rỡ rỡ,
Cõi Xích-Thiên vội mở ải-quan.
      Thiên-Quân diêu động linh-phan,
  Cả miền Thánh-vức nhộn-nhàng tiếp nghinh.
    Đài Chiếu-giám cảnh minh nhẹ bước,
Xem rõ-ràng tội phước căn sinh.
      Lần vào cung Ngọc diệt hình,
  Khai kinh Vô-Tự đặng nhìn quả duyên.
    Đắc văn-sách thông Thiên định Địa,
Phép huyền-công trụ nghĩa hóa thân.
      Kỵ kim-quang kiến Lão-Quân,
  Dựa xe Như-Ý oai thần tiễn thăng.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
     

NGŨ-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG

 

KINH ĐỆ LỤC CỬU

(Giọng Nam-Xuân)

    Bạch-Y-Quan mở đàng rước khách,
Cõi Kim-Thiên nhẹ tách Tiên xa.
      Vào cung Vạn-Pháp xem qua,
  Cho tường cựu nghiệp mấy tòa thiên-nhiên.
    Cung Lập-khuyết tìm duyên định ngự,
Lãnh Kim-sa đặng dự Như-Lai.
      Minh-Vương Khổng-Tước cao bay,
  Đem chơn-thần đến tận đài Huệ-Hương.
    Mùi ngào ngọt thơm luôn Thánh-thể,
Trừ tiêu tàn ô-uế sinh-quang.
      Thiên thiều trổi tiếng nhặt khoan,
  Đưa linh thẳng đến Niết-Bàn mới thôi.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
     

LỤC-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, ấn hành năm Nhâm Thân 1992
... ... ...
Mùi ngào ngạt ngọt thơm luôn Thánh-thể,
Trừ tiêu tàn ô-uế sinh-quang.
... ... ...

KINH ĐỆ THẤT CỬU

(Giọng Nam-Xuân)

    Nhẹ phơi-phới dồi-dào không-khí,
Hạo-Nhiên-Thiên đã chí môn-quan.
      Đẹp xinh cảnh vật đòi ngàn,
  Hào-quang chiếu diệu khai đàng thăng Thiên.
    Cung Chưởng-Pháp xây quyền Tạo-hóa,
Kiến Chuẩn-Đề thạch-xá giải thi.
      Dà-Lam dẫn nẻo Tây-Qui,
  Kim chung mở lối kịp kỳ kỵ sen.
    Động Phổ-Hiền Thần Tiên hội hiệp,
Dở Kim-Cô đưa tiếp linh-quang.
      Im-lìm kìa cõi Niết-Bàn,
  Lôi-Âm trống thúc lên đàng thượng Thiên.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
     

THẤT-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, ấn hành năm Nhâm Thân 1992
Nhẹ phơ-phới phơi-phới dồi-dào không-khí,
Hạo-Nhiên-Thiên đã chí môn-quan.
... ... ...
Im-lìm kìa cõi Niết-Bàn,
Lôi-Âm trống thúc lên đàng Thượng Tiêu thượng Thiên.
 

KINH ĐỆ BÁT CỬU

(Giọng Nam-Xuân)

    Hơi Tiên-tửu nực-nồng thơm ngọt,
Phi Tưởng-Thiên để gót tới nơi.
      Mùi trần khi đã xa khơi,
  Say sưa bầu khí bồi-hồi chung phong.
    Cung Tận-Thức thần-thông biến hóa,
Phổ-Đà-Sơn giải quả Từ-Hàng.
      Cỡi Kim-Hẩu đến Tịch-San,
  Đẩu-vân nương phép Niết-Bàn đến xem.
    Cung Diệt-Bửu ngọc rèm đã xủ,
Nghiệp hữu-hình tượng đủ vô-vi.
      Hồ Tiên vội rót tức thì,
  Nước Cam-Lồ rửa ai bi kiếp người.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
     

BÁT-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG

 

KINH ĐỆ CỬU CỬU

(Giọng Nam-Xuân)

    Vùng thoại-khí bát hồn vận-chuyển,
Tạo-Hóa-Thiên sanh biến vô cùng.
      Hội Bàn-Đào Diêu-Trì-Cung,
  Phục sinh đào hạnh rượu hồng thưởng ban.
    Cung Bắc-Đẩu xem căn quả số,
Học triều-nghi vào ở Linh-Tiêu.
      Ngọc-Hư-Cung, sắc lịnh kêu,
  Thưởng, phong, trừng trị, phân điều đọa thăng.
     

CỬU-NƯƠNG DIÊU-TRÌ-CUNG

    Nơi Kim-Bồn vàn-vàn nguơn chất,
Tạo hình-hài các bậc nguyên nhân.
      Cung Trí-Giác, trụ tinh thần,
  Huờn hư mầu-nhiệm thoát trần đăng Tiên.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
     

DIÊU-TRÌ KIM-MẪU

 

KINH TIỂU-TƯỜNG (200 ngày) (1)

(Giọng Nam-Xuân)

    Tịnh niệm phép Nhiên-Đăng tưởng tín,
Hư-Vô-Thiên đến thính Phật-điều.
      Ngọc-Hư đại hội ngự triều,
  Thiều quang nhị bá Thiên-Kiều để chơn.
    Bồ-Đề-Dạ dẫn hồn thượng tấn,
Cực-Lạc-Quan đẹp phận Tây-Qui.
      Vào Lôi-Âm, kiến A-Di,
  Bộ Công Di-Lặc Tam-Kỳ độ sanh.
    Ao Thất-Bửu gội mình sạch tục,
Ngôi liên-đài quả phúc Dà-Lam.
      Vạn-Linh trổi tiếng mầng thầm,
  Thiên-thơ Phật tạo độ phàm giải căn.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
     

DIÊU-TRÌ KIM-MẪU

       

1) Nghĩa là khi làm tuần cửu cửu rồi, đếm đủ 200 ngày thì làm Tiểu-Tường

.

KINH ĐẠI-TƯỜNG (300 ngày) (1)

(Giọng Nam-Xuân)

    Hỗn-Nguơn-Thiên dưới quyền Giáo-chủ,
Di-Lặc đương thâu thủ phổ duyên.
      Tái sanh sửa đổi chơn-truyền,
  Khai cơ tận độ cửu-tuyền diệt vong.
    Hội Long-Hoa tuyển phong Phật vị,
Cõi Tây-phang đuổi quỉ trừ ma.
      Giáng linh Hộ-Pháp Di-Đà,
  Chuyển cây Ma-Xử đuổi tà trục tinh.
    Thâu các Đạo hữu-hình làm một,
Trường thi Tiên, Phật dượt kiếp khiên.
      Tạo Đời cải dữ ra hiền,
  Bảo-sanh nắm giữ diệu huyền CHÍ-TÔN.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 3 lần)
     

THÍCH-CA MÂU-NI VĂN-PHẬT

       

(1) Nghĩa là khi làm Tiểu-Tường rồi, đếm đủ 300 ngày thì làm Đại-Tường.

 

DI-LẶC CHƠN KINH

BÀI KHAI KINH

(Giọng Nam-Xuân)

KHAI KINH KỆ

      Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ.
Ngã kim thính văn đắc thọ trì,
Nguyện giải Tân-kinh chơn thiệt nghĩa.

THÍCH-CA MÂU-NI VĂN PHẬT thuyết

DI-LẶC CHƠN KINH

Thượng Thiên Hỗn-nguơn hữu: Brahma Phật, Çiva Phật, Christna Phật, Thanh-Tịnh Trí Phật, Diệu Minh-Lý Phật, Phục-Tưởng Thị Phật, Diệt-Thể Thắng Phật, Phục-Linh Tánh Phật, nhứt thiết chư Phật, hữu giác, hữu cảm, hữu sanh, hữu tử, tri khổ nghiệp-chướng luân-chuyển hóa sanh, năng du ta bà thế-giái độ tận Vạn-Linh đắc qui Phật-vị.

Hội Nguơn-Thiên hữu: Trụ-Thiện Phật, Đa-Ái Sanh Phật, Giải-Thoát Khổ Phật, Diệu-Chơn-Hành Phật, Thắng-Giái-Ác Phật, nhứt thiết chư Phật tùng lịnh DI-LẶC-VƯƠNG PHẬT, năng chiếu diệu-quang tiêu trừ nghiệt chướng.

Nhược hữu chúng-sanh văn ngã ưng đương thoát nghiệt, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng tùng thị Pháp-điều Tam-Kỳ Phổ-Độ, tất đắc giải-thoát luân hồi, đắc-lộ Đa-La Tam-Diệu Tam-Bồ-Đề thị chi chứng quả Cực-Lạc Niết-Bàn.

Nhược nhơn đương sanh, nhược nhơn vị sanh nhược nhơn hữu kiếp, nhược nhơn vô kiếp, nhược nhơn hữu tội, nhược nhơn vô tội, nhược nhơn hữu niệm, nhược nhơn vô niệm, thính đắc ngã ngôn, phát tâm thiện niệm, tất đắc A-Nậu Đa-La Tam-Diệu Tam-Bồ-Đề tất đắc giải thoát.

Nhược hữu nhơn thọ-trì khủng kinh ma-chướng, nhứt tâm thiện niệm: Nam-mô DI-LẶC VƯƠNG BỒ-TÁT, năng cứu khổ ách, năng cứu tam-tai, năng cứu tật-bịnh, năng độ-dẫn chúng sanh thoát chư nghiệt-chướng tất đắc giải-thoát.

Hư-Vô Cao-Thiên hữu: Tiếp-Dẫn Phật, Phổ-Tế Phật, Tây-Qui Phật, Tuyển-Kinh Phật, Tế-Pháp Phật, Chiếu-Duyên Phật, Phong-Vị Phật, Hội-Chơn Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật tùng lịnh NHIÊN-ĐĂNG CỔ-PHẬT, dẫn-độ CHƠN-LINH đắc Pháp, đắc Phật, đắc duyên, đắc vị, đắc A-NẬU ĐA-LA TAM-DIỆU TAM-BỒ-ĐỀ chứng quả nhập CỰC-LẠC Quốc, hiệp chúng đẳng chư Phật tạo-định Thiên-Thi tận-độ Chúng Sanh đắc qui Phật-vị.

Nhược hữu thiện nam-tử, thiện nữ-nhân tu trì thính ngã dục đắc Chơn-Truyền niệm thử NHIÊN-ĐĂNG CỔ-PHẬT thường du ta bà Thế Giái, giáo-hóa Chơn-Truyền phổ tế Chúng Sanh giải-thoát lục-dục thất tình thoát đọa luân hồi tất đắc giải-thoát.

Tạo-Hóa Huyền-Thiên hữu: Quảng-Sanh Phật, Dưỡng-Dục Phật, Chưởng-Hậu Phật, Thủ-Luân Phật, dữ Cữu-vị Nữ Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, tùng lịnh KIM-BÀN PHẬT-MẪU năng tạo, năng hóa VẠN-LINH, năng du ta bà thế-giái dưỡng-dục quần sanh qui nguyên Phật-vị.

Nhược hữu thiện nam-tử, thiện nữ-nhân thính ngã dục tu phát nguyện: Nam-mô KIM-BÀN PHẬT-MẪU dưỡng-dục quần linh, nhược hữu sanh, nhược vị sanh, nhược hữu kiếp, nhược vô kiếp, nhược hữu tội, nhược vô tội, nhược hữu niệm, nhược vô niệm, hườn hư thi hình đắc A-NẬU ĐA-LA Tam-Diệu Tam Bồ-Đề Xá-Lợi-Tử qui-nguyên Phật-vị tất đắc giải-thoát.

Phi-Tưởng Diệu-Thiên hữu: Đa-Pháp Phật, Tịnh-Thiện-Giáo Phật, Kiến-Thăng Vị Phật, Hiển-Hóa-Sanh Phật, Trục Tà-Tinh Phật, Luyện-Đắc Pháp Phật, Hộ-Trì Niệm Phật, Khai-Huyền-Cơ Phật, Hoán-Trược-Tánh Phật, Đa Phúc-Đức Phật, như thị đẳng hằng-hà sa số chư Phật, tùng lịnh TỪ-HÀNG BỒ-TÁT, năng du Ta-Bà Thế-Giái thi pháp hộ-trì Vạn-Linh Sanh-Chúng.

Nhược hữu thiện nam-tử, thiện nữ-nhân tín ngã ưng đương phát nguyện Nam-mô TỪ-HÀNG BỒ-TÁT, năng cứu tật bịnh, năng cứu tam tai, năng độ tận Chúng-Sanh thoát ư tứ khổ, năng trừ tà ma, năng trừ nghiệt-chướng, tất đắc giải-thoát.

Hạo-Nhiên Pháp Thiên hữu: Diệt-Tướng Phật, Đệ-Pháp Phật, Diệt-Oan Phật, Sát-Quái Phật, Định-Quả Phật, Thành-Tâm Phật, Diệt-Khổ Phật, Kiên-Trì Phật, Cứu-Khổ Phật, Xá-Tội Phật, Giải-Thể Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật tùng lịnh CHUẨN-ĐỀ BỒ-TÁT, PHỔ-HIỀN BỒ-TÁT thường du ta-bà thế-giái độ-tận Vạn-linh.

Nhược hữu thiện nam-tử, thiện nữ-nhân tín ngã ưng đương phát nguyện Nam-mô CHUẨN-ĐỀ BỒ-TÁT, PHỔ-HIỀN BỒ-TÁT, năng trừ ma-chướng quỉ tai, năng cứu khổ-ách nghiệt-chướng, năng độ chúng sanh qui ư Cực-Lạc, tất đắc giải thoát. (1)

(1) Tụng đến đây rồi niệm danh chư Phật, hễ niệm danh mỗi vị lạy 1 lạy.

Nam-Mô
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
  DI-LẶC VƯƠNG PHẬT
Brahma Phật
Civa Phật
Christna Phật
Thanh-Tịnh Trí Phật
Diệu-Minh-Lý Phật
Phục-Tưởng Thị Phật
Diệt-Thể Thắng Phật
Phục-Linh Tánh Phật
Trụ-Thiện Phật
Đa-Ái-Sanh Phật
Giải-Thoát Khổ Phật
Diệu-Chơn Hành Phật
Thắng-Giái Ác Phật
Nam-Mô
-
-
-
-
-
-
-
-
  NHIÊN-ĐĂNG CỔ-PHẬT
Tiếp-Dẫn Phật
Phổ-Tế Phật
Tây-Qui Phật
Tuyển-Kinh Phật
Tế-Pháp Phật
Chiếu-Duyên Phật
Phong-Vị Phật
Hội-Chơn Phật
Nam-Mô
-
-
-
-
-
  KIM-BÀN PHẬT-MẪU
Quảng-Sanh Phật
Dưỡng-Dục Phật
Chưởng-Hậu Phật
Thủ-Luân Phật
Cửu Vị Nữ Phật
Nam-Mô
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
  TỪ-HÀNG BỒ-TÁT
Đa-Pháp Phật
Tịnh-Thiện-Giáo Phật
Kiến-Thăng Vị Phật
Hiển-Hóa Sanh Phật
Trục-Tà-Tinh Phật
Luyện-Đắc-Pháp Phật
Hộ-Trì Niệm Phật
Khai-Huyền-Cơ Phật
Hoán-Trược-Tánh Phật
Đa-Phúc-Đức Phật
Nam-Mô
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
  CHUẨN-ĐỀ BỒ-TÁT
PHỔ-HIỀN BỒ-TÁT
Diệt-Tướng Phật
Đệ-Pháp Phật
Diệt-Oan Phật
Sát-Quái Phật
Định-Quả Phật
Thành-Tâm Phật
Diệt-Khổ Phật
Kiên-Trì Phật
Cứu-Khổ Phật
Xá-Tội Phật
Giải-Thể Phật (1)
     

(1) Tụng đến đây, niệm câu chú của Thầy (3 lần và lạy 12 lạy)

 

KINH SÁM-HỐI (1)

(Giọng Nam-Xuân)

(1) Kinh nầy tụng ngày Sóc Vọng, còn ngày thường lỡ có lầm-lỗi điều chi, phải tụng mà xin tội.

 

    Cuộc danh lợi là phần thưởng quí,
Đấng Hóa-Công xét kỹ ban ơn.
      Lòng đừng so thiệt tính hơn,
  Ngày đêm than thở dạ hờn ích chi.
    Người sang cả là vì duyên trước,
Kẻ không phần luống ước cầu may.
      Sang giàu chẳng khác như mây,
  Khi tan khi hiệp đổi xây không thường.
    Việc sanh tử như đường chớp nhoáng,
Bóng quang âm ngày tháng dập dồn.
      Giữ cho trong sạch linh hồn,
  Rèn lòng sửa nết đức tồn hậu lai.
    Điều họa phước không hay tìm tới,
Tại mình dời nên mới theo mình.
      Cũng như bóng nọ tùy hình,
  Dữ lành hai lẽ công bình thưởng răn.
    Khi vận thới lung-lăng chẳng kể,
Lúc suy-vi bày lễ khẩn-cầu.
      Sao bằng ở phải buổi đầu,
  Thần-minh chánh-trực có đâu tư vì.
    Người làm phước có khi mắc nạn,
Kẻ lăng loàn đặng mạng giàu sang.
      Ấy là nợ trước còn mang,
  Duyên kia chưa dứt còn đang thưởng đền.
    Nếu vội trách người trên thì đọa,
Cũng có khi tai họa trả liền.
      Đó là báo-ứng nhãn tiền,
  Mau thì mình chịu lâu truyền cháu con.
    Lo danh vọng hao mòn thân-thể,
Ham làm giàu của để bằng non.
      Một mai nhắm mắt đâu còn.
  Đem vàng chuộc mạng đổi lòn đặng chăng.
    Trên đầu có bủa giăng Thần Thánh,
Xét xem người tánh hạnh dữ hiền.
      Làm lành đặng hưởng phước duyên,
  Trong lòng nham hiểm lộc quyền giảm thâu.
    Đừng tính kế độc sâu trong dạ,
Mà gổ-ganh oán chạ thù vơ.
      Trái oan nào khác mối tơ,
  Rối rồi không gỡ bao giờ cho ra.
    Thấy hình khổ dạ ta đâu nỡ,
Khuyên làm lành trừ đỡ tội căn.
      Quấy rồi phải biết ăn-năn,
  Ở cho nhân hậu chế răn lòng tà.
    Hãy có dạ kỉnh già thương khó,
Chớ đem lòng lấp ngõ tài hiền.
      Xót thương đến kẻ tật nguyền,
  Đỡ nâng yếu thế binh quyền mồ côi.
    Làm con phải trau-giồi hiếu-đạo,
Trước là lo trả thảo mẹ cha.
      Lòng thành thương tưởng ông bà,
  Nước nguồn cây cội mới là tu mi.
    Giá trong sạch nữ-nhi trượng tiết,
Giữ cho tròn trinh-liệt mới mầu.
      Ở sao đáng phận đạo dâu,
  Thờ chồng tiết hạnh mới hầu gái ngoan.
    Đừng có cậy giàu sang chẳng nể,
Không kiên chồng khi dể công-cô.
      Ấy là những gái hung-đồ,
  Xúi chồng tranh-cạnh hồ-đồ sân-si.
    Tánh ngoan-ngạnh không vì cô bác,
Thói lăng-loàn bạn tác khinh-khi.
      Ngày sau đọa chốn Âm-Ty,
  Gông kềm khảo kẹp ích gì rên la.
    Người tai mắt đạo nhà khá giữ,
Nghĩa anh em cư xử thuận hòa.
      Vẹn tròn đạo cả giềng ba,
  Kính anh mến chị thì là phận em.
    Trên thương dưới xét xem kẻ nhỏ,
Lúc lâm nàn chớ bỏ tránh xa.
      Cũng là một gốc sanh ra,
  Gồm bao nâng đỡ ruột-rà thương nhau.
    Người trung-trực lo âu nợ nước,
Hưởng lộc vua tìm chước an bang.
      Chớ làm con giặc tôi loàn,
  Thuế sưu đóng đủ đừng toan kế tà.
    Phận làm tớ thật-thà trung-tín,
Với chủ nhà trọn kính trọn ngay.
      Áo cơm no ấm hằng ngày,
  Của người châu cấp ơn dày nghĩa sâu.
    Đừng gặp việc câu-mâu biếng nhác,
Mà quên lời phú-thác dặn dò.
      Trước người giả bộ siêng lo,
  Sau lưng gian-trá so-đo tấc lòng,
    Phải chừa thói loài ong tay áo,
Bớt học đòi khỉ dạo dòm nhà,
      Gìn lòng ngay thẳng thật-thà,
  Nói năng minh chánh lời ra phải nhìn.
    Chớ quyệt ngữ mà khinh kẻ dại
Đừng gian mưu hãm-hại người hiền.
      Anh em bằng-hữu kết nguyền,
  Một lòng tin cậy phải kiêng phải vì.
    Chẳng thấy khó mà khi mà thị,
Gặp người giàu mà vị mà nâng.
      Dầu khi gặp lúc gian-truân,
  Cũng đồng giúp ích chớ đừng mặt ngơ.
    Làm người phải kỉnh thờ Thần, Thánh,
Giữ lời nguyền tâm-tánh tưởng tin.
      Hễ là niệm Phật tụng kinh,
  Rèn lòng sửa nết khá in như nguyền.
    Chừa thói xấu đảo-điên trong dạ,
Muôn việc chi chẳng khá sai lời.
      Dối người nào khác dối Trời,
  Trời đâu dám dối ra đời ngỗ-ngang.
    Chớ lầm tưởng trong hang vắng tiếng,
Mà dể-duôi sanh biến lăng-loàn.
      Con người có trí khôn-ngoan,
  Tánh linh hơn vật biết đàng lễ nghi.
    Phải cho biết kỉnh vì trên trước,
Đừng buông lời lấn lướt hồ-đồ.
      Thuận cùng chú bác cậu cô,
  Bà con chòm xóm ra vô khiêm-nhường.
    Thấy già yếu hẹp đường nhượng tránh,
Đừng chỗ đông buông tánh quá vui.
      Cợt người ra dạ dể-duôi,
  Sanh điều xích-mích đâu nguôi dạ hờn.
    Khi tế tự chớ lờn chớ dể,
Việc quan, hôn, thủ lễ nghiêm-trang.
      Gìn lòng chẳng khá lăng-loàn,
  Lễ-nghi vẹn giữ vững-vàng chớ quên.
    Giàu sang ấy Ơn Trên giúp sức,
Phước ấm no túc thực túc y.
      Thấy người gặp lúc tai nguy,
  Ra tay tế độ ấy thì lòng nhơn.
    Thương đồng loại cũng hơn thí bạc,
Thấy trên đường miểng bát, miểng chai.
      Hoặc là đinh nhọn, chông gai,
  Mau tay lượm lấy đoái hoài kẻ sau.
    Ấy làm phước khỏi hao khỏi tốn,
Chẳng có đâu mòn vốn thâm tiền.
      Bắc cầu đắp sửa đường liền,
  Kẻ qua người lại bước yên gọn-gàng.
    Thi ân hậu bạc ngàn khó sánh,
Rán tập thành sửa tánh từ hòa.
      Việc lành chẳng khá bỏ qua,
  Tuy rằng nhỏ-nhít cũng là công phu.
    Năng làm phải, nhựt nhu ngoạt nhiễm,
Lâu ngày dồn tính đếm có dư.
      Phước nhiều tội quá tiêu trừ,
  Phép Trời thưởng phạt không tư chẳng vì.
    Thấy lỗi mọn chớ nghi chẳng hại,
Thường dạn làm tội lại hằng-hà.
      Vì chưng tựu thiểu thành đa,
  Họa tai báo ứng chẳng qua mảy hào.
    Giữa bụi thế giữ sao khỏi vấy,
Biết ăn năn xét lấy sửa lòng.
      Làm người nhơn-nghĩa xử xong,
  Rủi cho gặp lúc long-đong chẳng sờn.
    Hễ biết nghĩa thọ ơn chẳng bội,
Giúp cho người chớ vội khoe ra.
      Việc chi cũng có chánh tà,
  Làm điều phải nghĩa lánh xa vạy-vò.
    Khi gặp chuyện khá dò xét cạn,
Liệu sức mình cho hẳn sẽ làm.
      Chớ đừng thấy của dấy tham.
  Giục người làm quấy ắt cam đồng hình.
    Ở ngay thẳng Thần-minh bảo hộ,
Nết xéo-xiên gặp chỗ rạt tù.
      Trong đời rất hiếm võ-phu,
  Lường cân, tráo đấu, dối tu cúng chùa.
    Còn hoi-hóp tranh đua bay nhảy,
Nhắm mắt rồi phủi thảy lợi danh.
      Lương-tâm thường xét cho rành,
  Của không phải nghĩa chớ sanh lòng tà.
    Người quân-tử chẳng thà chịu khổ,
Đâu làm điều nhục tổ hổ tông.
      Đứa ngu thấy của thì mong,
  Không gìn tội-lỗi phép công nước nhà.
    Bày chước độc, xúi ra việc quấy,
Tổn cho người mà lấy lợi riêng.
      Hễ nghe khua động đồng tiền,
  Sửa ngay làm vạy không kiêng chút nào.
    Người nghèo khổ biết sao than kể,
Kẻ lễ nhiều cậy thế ỷ quyền.
      Làm quan tính kế đảo điên,
  Gạt thâu gia sản, đất điền của dân.
    Thả tôi-tớ thôn lân húng hiếp,
Bức gái lành, ép thiếp đòi hầu.
      Trong lòng mưu chước rất sâu,
  Mai sau suy sụp đáo đầu ra chi.
    Gái xướng-kỵ, trai thì du-đãng,
Phá tan hoang gia sản suy-vi.
      Làm người phải khá xét suy,
  Của rơi chớ lượm, tham thì phải thâm.
    Còn một nỗi gian-dâm đại tội,
Lấy vợ người làm lỗi tiết-trinh.
      Tuy là Trời Đất rộng thinh,
  Mắt dường sao nháy chiếu minh lòng người.
    Lương-tâm biết hổ ngươi chừa lỗi,
Mới biệt phân sừng đội lông mang.
      Việc lành, việc dữ đồn vang,
  Tuy là khuất bóng xương tan tiếng còn. (*1)
    Gái tiết-hạnh giữ tròn danh giá,
Chớ học đòi mèo mả gà đồng.
      Làm điều nhục-nhã tổ-tông,
  Tiếng nhơ giặt rửa biển sông đặng nào.
    Trai trung hiếu sửa trau ba mối,
Đừng buông lung lầm-lỗi năm hằng.
      Hung-hoang tội báo nghiệt căn,
  Kẻ chê người thị không bằng cỏ cây.
    Thà tiết-kiệm hằng ngày no đủ,
Tánh siêng-năng lam-lụ làm ăn.
      Lòng chừa biếng nhác kiêu căng,
  Của tiền lãng phí không ngằn phải tiêu.
    Lòng Trời Đất thương đều muôn vật,
Đức háo-sanh Tiên, Phật một màu.
      Thượng cầm hạ thú lao-xao,
  Côn-trùng thảo-mộc loài nào chẳng linh.
    Nó cũng muốn như mình đặng sống,
Nỡ lòng nào tuyệt giống dứt nòi.
      Bền công kinh sách xem coi,
  Vô can sát mạng thiệt thòi rất oan.
    Chớ kiếm thế gọi ngoan xảo-trá.
Lưới rập chim, thuốc cá, đốt rừng.
      Thương thay phá noãn lẫy-lừng,
  Tội căn báo-ứng biết chừng nào an.
    Lại có kẻ hung-hoang ác-nghiệt,
Cướp giựt rồi chém giết mạng người,
      Đoàn năm, lũ bảy dạo chơi,
  Hiếp người lương-thiện, phá đời hại dân.
    Tua khá tưởng thương lần nòi giống,
Hãy xét vì mạng sống khó cầu.
      Cũng đừng bài bạc lận nhau,
  Rủ ren rù quến, lấy xâu ăn đầu.
    Phải hiểu biết máy sâu họa kín,
Thánh, Thần đâu tư lịnh bỏ qua.
      Thường ngày tuần khắp xét tra,
  Phạt người hung-ác đọa sa A-Tỳ.
    Sống dương-thế hành thì căn bịnh,
Xui tai-nàn dấp-dính theo mình.
      Ăn-năn khử ám hồi minh,
  Từ-bi Trời Phật rộng tình xét cho.
    Đừng cố oán thầm lo gây họa,
Đem lòng thù hăm dọa rắp đường.
      Đốt nhà, tháo cống, phá mương,
  Nước tràn lụt ngập ruộng vườn tan hoang.
    Thêm liều mạng đặng toan đổ tội,
Cho người hiền chịu lỗi vương mang.
      Khi hồn lìa khỏi trần gian,
  Hóa ra ngạ-quỷ cơ-hàn khổ thân.
    Đời nhiều kẻ khi Thần thị Thánh,
Ám-muội lòng tánh hạnh gỗ-ganh.
      Thấy ai làm phải làm lành,
  Xiểm-gièm cho đặng khoe danh của mình.
    Lại còn có tánh tình hiểm độc,
Xúi phân chia thân tộc ruột-rà.
      Làm cho chồng vợ lìa xa,
  Cả đời nghiệt-báo oan-gia chẳng rời.
    Muốn tránh đặng khỏi nơi tội quá,
Lánh kẻ tà chẳng khá nên gần.
      Thí tiền, thí bạc, chẩn bần,
  Người đau thí thuốc, Thánh, Thần phước ban.
    Đêm thanh vắng chớ toan mưu dối,
Xúi trẻ thơ lầm-lỗi ngỗ-ngang.
      Âm đài gông tróng sẵn-sàng,
  Chờ khi thác xuống cổ mang hành hình.
    Các thơ truyện huê tình xé hủy,
Kẻo để đời làm lụy luân-thường.
      Nói lời tục tĩu không nhường,
  Tội hành cắt lưỡi trăm đường ghê thay!
    Lại có kẻ miệng ngay lòng vạy,
Tởi làm chùa, dối cậy in kinh.
      Ăn gian xới bớt cho mình,
  Dầu qua dương pháp, luật hành Diêm-vương.
    Thêm những sãi giả nương cửa Phật,
Của thập phương châu cấp thê nhi.
      Ngày sau đọa lạc Âm-Ty,
  Thường thường khảo kẹp chẳng khi nào rời.
    Thấy giấy chữ rớt rơi lượm lấy,
Đốt ra tro bỏ chảy dòng sông.
      Thủy-triều vận-tải biển đông,
  Lòng hằng dường ấy phước đồng ăn chay.
    Chịu cực khổ đắng cay biết mấy,
Cuốc, cày, bừa, gieo, cấy, gặt, đong,
      Làm ra lúa gạo dày công,
  Dầm mưa dan nắng kẻ nông nhọc-nhằn.
    Nhờ Diêm-Đế đức cao ân nặng,
Tìm lúa khoai người đặng no lòng.
      Ngày ngày vọng niệm chớ vong,
  Chẳng nên hủy hoại mới phòng khỏi hoang.
    Chớ hiểm độc dạ lang lần lựa,
Nhơn thất mùa bế dựa gắt-gao.
      Chờ khi lúa phát giá cao,
  Khai ra bán mắc Trời nào dung cho.
    Ơn trợ giúp khá lo đền báo,
Giữ vẹn tròn nghĩa đạo với đời.
      Túng cùng vay mượn của người,
  Vui lòng tính trả vốn lời cho kham.
    Chớ oán-chạ tham-lam ngược-ngạo,
Bội nghĩa ân trở-tráo chước sâu.
      Luân-hồi thưởng phạt rất mầu,
  Chuyển thân tái thế ngựa trâu công đền.
    Người phú túc vun nền âm đức,
Lấy lòng nhơn giúp sức trợ nghèo.
      Chớ sanh chước hiểm hẹp eo,
  Lời tăng quá vốn kẻ nghèo xiết than.
    Làm mặt phải bạc ngàn cúng Phật,
Ép kẻ nghèo cố đất cầm vườn.
      Phật Trời nhơn vật đồng thương,
  Có đâu hưởng của bất lương mà mời.
    Phận làm chủ lấy lời nhỏ-nhẹ,
Mà nghiêm-trừng mấy kẻ tôi-đòi.
      Đừng lòng nham hiểm hẹp hòi,
  Buông lời chửi rủa đòn roi không từ.
    Tánh độc-ác tội dư tích trữ,
Chốn Âm-Cung luật xử nặng-nề.
      Đánh đòn khảo kẹp gớm-ghê,
  Hành hình khổ-não chẳng hề nới tay.
    Miền âm-cảnh nhiều thay hình lạ,
Cõi dương-trần tội quá dẫy đầy.
      Thánh-hiền Kinh sách dạy bày,
  Lòng người ám-muội lỗi gây ra hoài.
    Kẻ lỗ-mãng chê bai khinh-dể,
Rằng thác rồi còn kể ra chi.
      Nhãn tiền trả quả tức thì,
  Tội dư con cháu một khi đền bồi.
    Chớ quấy tưởng luân-hồi phi lý,
Mà hung hăng chẳng nghĩ chẳng suy.
      Thi-hài như gỗ biết gì,
  Linh-hồn là chủ thông tri việc đời.
    Lúc chung mạng dứt hơi, hồn xuất,
Quỉ vô-thường sẵn chực đem đi.
      Dắt hồn đến chốn Âm-Ty,
  Xét xem công quả chẳng ly mảy hào.
    Người lương thiện ra vào thong-thả,
Kẻ tội nhiều đày-đọa rất minh,
      Phật, Trời phép lạ hiển-linh,
  Hành cho tan xác huờn hình như xưa. (*2)
    Con bất hiếu xay cưa đốt giã,
Mổ bụng ra phanh rã tim gan.
      Chuyển thân trở lại trần gian,
  Sanh làm trâu chó đội mang lông sừng.
    Kìa những gái lẫy lừng hạnh xấu,
Bỏ vạc đồng đốt nấu thảm kinh.
      Vì chưng trinh-tiết chẳng gìn,
  Có chồng còn lại ngoại tình với trai.
    Kẻ tham lợi cột mai cột mối,
Chuốt trau lời giả dối ngọt ngon.
      Dỗ-dành, rù quến gái non,
  Làm hư hoại tiết cháu con nhà người.
    Lòng lang độc vui cười hớn-hở,
Chốn Diêm-Đình phạt quở trừng răn.
      Gông kềm khảo kẹp lăng-xăng,
  Hành cho đáng kiếp tội căn đã làm.
    Ngục đao kiếm cầm giam phạm ác,
Tánh gian-dâm hành phạt gớm ghê.
      Giáo gươm bén nhọn tư bề,
  Chém đâm máu chảy tràn-trề ngục môn.
    Hành đến chết huờn hồn sống lại,
Cho đầu thai ở tại thanh-lâu.
      Ngày đêm đưa rước chực-chầu,
  Công-bình Thiên-Đạo phép mầu chí linh.
    Móc nhọn vắt treo mình nhỏng-nhảnh,
Cối đạp đồng rất mạnh giã dần.
      Ấy là phạt kẻ lường cân,
  Đo gian, đong thiếu, Thánh Thần chẳng kiêng.
    Bầy chó dữ mang xiềng chạy đại,
Thấy tội nhơn xúm lại phân thây.
      Hình nầy phạt kẻ dại ngây,
  Khinh khi Tam-giáo đọa-đày thế ni.
    Ao nước nóng sôi thì sục sục,
Dầm cho người rã-rục thịt xương.
      Cũng vì lòng dạ vô lương,
  Đệ huynh bất mục chẳng thương đồng-bào.
    Nhiều gộp núi như đao chơm-chởm,
Thấy dùn mình táng đỡm rất ghê,
      Thây người máu chảy dầm-dề,
  Tiếng la than khóc tư bề rùm tai.
    Phạt những kẻ sửa ngay ra vạy,
Tớ phản Thầy, tôi lại bất trung. (*3)
      Hành rồi giam lại Âm-Cung,
  Ngày đêm đánh khảo trăng cùm xiềng gông.
    Hình Bào-Lạc cột đồng vòi-vọi,
Đốt lửa hồng ánh giọi chói lòa.
      Trói người vào đó xát chà,
  Vì chưng hung-bạo đốt nhà bắn săn.
    Có cọp dữ nhăn răng đưa vấu,
Gặp tội-nhơn quào-quấu xé thây.
      Ấy vì lòng dạ chẳng ngay,
  Giết người lấy của bị nay hình nầy.
    Ao rộng lớn chứa đầy huyết phẩn,
Xô người vào, lội lặn nhờm thay!
      Tanh hôi mình mẩy vấy đầy,
  Trồi lên hụp xuống gậy cây đánh đầu.
    Để hành kẻ chứa sâu, lường của,
Trù ếm người, chửi rủa Tổ Tông.
      Đồ dơ giặt đổ rạch sông,
  Đương khi uế trược thẳng xông chỗ thờ.
    Vào bếp núc chỗ nhơ không kể,
Phơi áo quần chẳng nể Tam Quang.
      Buông lời tục tĩu dâm loàn,
  Lâu mau, nặng nhẹ, chịu mang tội nầy.
    Ao rộng sâu chứa đầy giòi tửa,
Hơi tanh hôi thường bữa lẫy-lừng.
      Gạo cơm hủy hoại quen chừng,
  Phạt ăn dơ-dáy mới ưng tội hình.
    Cột trói ngược quá kinh rất lạ,
Quỉ Dạ-xoa đánh vả kẹp cưa.
      Vì chưng chửi gió mắng mưa,
  Kêu tên Thần, Thánh chẳng chừa chẳng kiêng.
    Bàn chông nhọn liền liền đánh khảo,
Tra tội nhơn, gian giảo ngược-ngang.
      Hành người bế dịch, trợ hoang, (*4)
  Thừa năm hạn đói mưu toan bức nghèo.
    Thành Uổng-Tử cheo-leo gớm ghiếc,
Cầm hồn oan rên siết khóc than.
      Dương-gian ngỗ-nghịch lăng-loàn,
  Liều mình tự-vận không màng thảo ngay.
    Xuống Địa-Ngục đọa-đày hành mãi,
Đúng số rồi còn phải luân-hồi.
      Hóa-công xem xét đền bồi,
  Lành siêu dữ đọa thêm nhồi tội căn.
    Cầu Nại-Hà bắc giăng sông lớn,
Tội nhơn qua óc rởn dùn mình.
      Hụt chơn ván lại gập-ghình,
  Nhào đầu xuống đó cua kình rỉa thây.
    Nhiều thứ rắn mặt mày dữ-tợn,
Ngóng cổ trông mắt trợn dòm người.
      Gắp thây nuốt sống ăn tươi,
  Vì bày thưa kiện móc bươi xúi lời.
    Trong núi lửa bay hơi tanh khét,
Linh-hồn người đầy nghẹt trong ngoài!
      Phạt răn quến gái, dụ trai,
  Bày ra thuốc độc, phá thai tuyệt loài.
    Người ở thế mấy ai khỏi lỗi,
Biết lạc-lầm sám-hối tội căn.
      Tu tâm sửa tánh ăn-năn,
  Ba giềng nắm chặt, năm hằng chớ lơi.
    Ngặt có kẻ tưởng Trời tin Phật,
Mà trong lòng chẳng thật kính thành.
      Lâm nguy miệng vái làm lành,
  Tai qua rồi lại dạ đành phụ vong.
    Chớ thái-quá đừng lòng bất cập,
Phép tu hành luyện tập nhiều ngày.
      Làm lành, xem phải, nói ngay,
  Giữ ba điều ấy thiệt rày phước duyên.
    Lời kệ sám di truyền khuyến thiện,
Câu văn từ luận biện thật-thà.
      Chẳng dùng những tiếng sâu xa,
  E không hiểu thấu diễn ra ích gì?
    Chớ buông tiếng thị phi khinh dể,
Rán làm lành phước để cháu con.
      Làm người nhơn nghĩa giữ tròn,
  Muôn năm bóng khuất, tiếng còn bay xa.

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, ấn hành năm Nhâm Thân 1992
... ... ...
Lương-tâm biết hổ ngươi chừa lỗi,
 Mới biệt phân sừng đội lông mang.
Việc lành, việc dữ đồn vang,
Tuy là bóng khuất khuất bóng xương tan tiếng còn.
... ... ...
Người lương thiện ra vào thong-thả,
 Kẻ tội nhiều đày-đọa rất minh,
Phật, Trời phép lạ hiển-linh,
Hành cho tan giác tan xác huờn hình như xưa.
... ... ...
Phạt những kẻ sửa ngay ra vạy,
 Tớ phản Thầy, quan lại tôi lại bất trung.
... ... ..
Bàn chông nhọn liền liền đánh khảo,
 Tra tội nhơn, gian giảo ngược-ngang.
Hành người bế địch bế dịch, trợ hoang,
Thừa năm hạn đói mưu toan bức nghèo..

 

BÀI KHEN-NGỢI KINH SÁM-HỐI

(Giọng Nam-Xuân)

      Nghe lời khuyến thiện rất may,
  Nguyện lòng niệm Phật ăn chay làm lành.
      Ngày ngày tập sửa tánh thành,
  Đêm đêm tự tỉnh tu hành ăn-năn.
      Một là hối-ngộ tội căn,
  Hai là cầu đặng siêu-thăng cửu-huyền.
      Đương sanh hạnh hưởng phước duyên,
  Trong nhà già trẻ miên-miên thái-bình.
      Sau dầu đến chốn Diêm-Đình,
  Linh-hồn trong sạch nhẹ mình thảnh-thơi.
      Luân-hồi trở lại trên đời,
  Tiền công thì cũng Phật Trời thưởng ban.
      Cầu xin trăm họ bình-an,
  Nước giàu dân mạnh thanh-nhàn muôn năm.

 

BÀI XƯNG-TỤNG CÔNG-ĐỨC
PHẬT, THÁNH, TIÊN, THẦN

(Giọng Nam-Xuân)

    Hào-quang chiếu chín từng mây bạc,
Thần, Thánh, Tiên thừa hạc cỡi rồng.
      Phép linh thiệt rất chí công,
  Hóa sanh muôn vật, ngưỡng trông phước đời.
    Trên Điện-Ngọc Vua Trời ngự giáng,
Trước đền vàng phán đoán phân-minh.
      Cõi trần trung giái thinh-thinh,
  Phàm gian lao-khổ đao binh tai-nàn.
    Lòng Trời cảm cứu an lê-thứ,
Độ chúng sanh muôn xứ gội ơn.
      Đạo Nho truyền dạy nghĩa nhân,
  Văn-Tuyên Khổng-Thánh khuyến dân răn đời.
    Ghi các sách ngàn lời để lại,
Chép nhiều thơ vạn đại truyền ra.
      Tây-phương cõi Phật chói lòa,
  Từ-bi Phật-Tổ hải-hà độ dân (cúi đầu).
    Lòng cảm xót dương trần lận đận,
Ra oai-linh tiếp-dẫn nhơn cầm.
      Phổ-Đà có Phật Quan-Âm (cúi đầu),
  Ra công cứu thế, ân thâm đức dày.
    Nhiều kiếp đã đầu thai biết mấy,
Xuống Hồng-trần khuyến dạy thương sanh.
      Lão-Quân ứng hóa Tam-Thanh,
  Khuyên răn nhơn vật lòng lành chớ xao.
    Cơ huyền-diệu Đạo Cao minh-chánh,
Hiển phép mầu ma lánh quỉ kiêng.
      Trừ yêu có Thánh Tề-Thiên,
  Qui-y Phật pháp ở miền Tây-Phương.
    Oai bốn hướng Thần nhường quỉ sợ,
Đức ba giềng tế trợ thương sanh.
      Hớn-Trào Quan-Thánh bia danh,
  Trung, can, nghĩa, khí, háo sanh giúp đời.
    Tuần ba cửa, cõi Trời đều dụng,
Xét bốn phương, dân chúng dữ lành.
      Linh-Tiêu Thái-Bạch Trường-Canh,
  Truyền tâu Đế-Khuyết dữ lành nhơn gian.
    Chí từ-huệ giúp an lê-thứ,
Thông rõ đời nhơn sự kiết hung.
      Đại-Tiên ở chốn Tiên-cung,
  Lòng lành thi phú thung-dung độ người.
    Ánh Xá-lợi sáng ngời Cực-Lạc,
Hiện kim thân Bồ-Tát hóa duyên.
      Thiên-Cung: Tinh Tú, Thánh, Tiên,
  Địa kỳ: Thần Tướng đàn tiền giáng-lâm.
    Lòng sở vọng lâm-dâm tụng-niệm,
Xin giải nàn Nam-Thiệm Bộ-Châu.
      Chúng sanh cảm đức cao sâu,
  Rèn lòng, sửa nết, lo-âu làm lành.

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, ấn hành năm Nhâm Thân 1992
... ... ...
Đại-Tiên ở chốn Thiên-cung Tiên-cung,
Lòng lành thi phú thung-dung độ người.
... ... ...

 

GIỚI TÂM KINH (1)

(Giọng Nam-Xuân)

(1) Năng tụng bài nầy mà sửa tánh răn lòng.

 

    Vọng Thượng-Đế chứng lòng thành-tín,
Chúng sanh đồng bái kỉnh khẩn-nguyền.
      Nguyền cho trăm họ bình yên,
  Nhà nhà no ấm khỏi phiền khỏi than.
    Nguyền Khổng-Thánh bảo toàn Nho-Giáo,
Lấy nghĩa nhơn Đại-Đạo truyền ra.
      Tây-phương Phật-Tổ Di-Đà,
  Nam-Hải Phổ-Đà cứu khổ Quan-Âm.
    Lẽ báo ứng cao thâm huyền-diệu,
Cho chúng sanh đặng hiểu răn mình.
      Đạo-Quân đức hóa háo sinh,
  Rộng quyền máy nhiệm an-linh cứu đời.
    Xin xót thương con người ngây dại,
Phép huyền-hư truyền dạy thế-gian.
      Mong nhờ lịnh Đức Thánh-Quan,
  Ra oai tiêu-diệt cho tàn ác ma.
    Trường-Canh chói rạng lòa Kim-Khuyết,
Xin ban ơn giải nghiệt cho đời.
      Tề-Thiên Đại-Thánh để lời,
  Thiện nam, tín nữ nghe thời phải vưng.
    Chớ tự phụ, cũng đừng khinh ngạo,
Lẽ Trời hằng quả báo chẳng sai.
      Lời khuyên già trẻ gái trai,
  Khá tua sửa nết, ăn chay làm lành.
    Đấng Tạo-Hóa hóa sanh muôn vật,
Phú cho người tánh rất linh thông.
      Đặt ra có họ, có dòng,
  Vua, thầy, cha, mẹ, vợ, chồng, cháu, con.
    Tình huynh-đệ tày non tợ biển,
Nghĩa hữu bằng phải kiếng phải tin.
      Cang tam, thường ngũ phải gìn,
  Chứa đức, làm lành, làm phước, làm doan.
      Gặp người đói rách khốn nàn,
  Ra tay chẩn cứu cho toàn nghĩa nhơn.
    Mựa chớ ham giọng đờn tiếng quyển,
Thói dâm phong rù quyến nguyệt hoa.
      Có ngày hư nát cửa nhà,
  Xa gần đồn tiếng thúi tha vô cùng.
    Trường đổ bác cũng đừng léo tới,
Phường trăng hoa hát bội khá từ.
      Những điều nhơ-nhuốc phải chừa,
  Hỗn-hào mắng nhiếc, nói thừa nói thêm.
    Nơi địa ngục gông kềm sẵn đủ,
Để răn loài dâm phụ gian phu.
      Ai ai bền chí mà tu,
  Phước đem đổi tội cho phu dễ gì?
     
      Có thơ rằng :
    Dễ gì lộn kiếp đặng làm người,
May đặng làm người chớ dể-duôi.
Lành dữ hai đường vừa ý chọn,
Lành như tòng, dữ tợ hoa tươi.

Hoa tươi, tòng bá, khác nhau xa,
Tòng bá xơ rơ kém sắc hoa.
Gặp tiết đông-thiên sương tuyết bủa,
Chỉ còn tòng bá, chẳng còn hoa.

Còn hoa mà lại ích chi đâu,
Đẹp dáng tươi màu đặng mấy lâu.
Thử sánh ngọn đèn cùng bóng nguyệt,
Gió lay đèn tắt, nguyệt làu-làu.

Làu-làu một tấm tợ đài gương,
Trung, hiếu, tiết, trinh vẹn mọi đường.
Sang cả mặc người đừng bợ-đỡ,
Hoạnh tài trơ mắt khỏi tai-ương.

Tai ương hoạn họa luống ưu sầu,
Vì bởi hay bày chước hiểm sâu.
Lập kế đồ mưu âm hại chúng,
Kiếp sau mang lấy lốt heo trâu.

Heo trâu thân thể mạt hèn thay,
Mãn kiếp lại còn bị xẻ thây.
Lộng lộng lưới Trời tuy sếu-sáo,
Thưa mà chẳng lọt mảy lông mày.

Mày râu đứng giữa cõi trần-gian,
Gắng sức chống cho vững miếu đàng.
Phận gái tam tùng cùng tứ-đức,
Tề-gia nội trợ vẹn là ngoan.

Ngoan-ngùy chơn-chánh Phật Thần thương,
Chơn-chánh liên-hòa với thiện lương.
Thần-Thánh thành, do người chánh thiện,
Thiện-lương chơn-chánh đức không lường.

Không lường kẻ thiện với người hung,
Bợ đỡ giàu-sang phụ khốn cùng.
Ngoài mặt giả tuồng người trượng nghĩa,
Trong lòng dối kết chút tình chung.

Tình chung đặng cậy thế người sang,
Mượn tiếng khua môi với xóm làng,
Lời dạy Thần Tiên không kể đến,
Đạo mầu chẳng cứ, cứ khoe-khoang.

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, ấn hành năm Nhâm Thân 1992
 ... ... ...
Chớ tự phụ, cũng đừng khi ngạo khinh ngạo,
Lẽ Trời hằng quả báo chẳng sai.

 

U-MINH-CHUNG

  1. HỒNG CHUNG SƠ KHẤU BẢO KỆ CAO NGÂM.
  2. THƯỢNG THÔNG THIÊN ĐÀNG HẠ TRIỆT ĐỊA PHỦ.
  3. KHÁNH CHÚC TAM-KỲ HOẰNG KHAI ĐẠI-ĐẠO.
  4. CÀN KHÔN ĐẠI THỐNG PHỔ CẬP NGŨ CHÂU.
  5. ÂN ĐỨC HÓA THÂM CAO THĂNG ĐẠO VỊ.
  6. TAM THẾ TỨ SANH CHI NỘI CÁC MIỄN LUÂN-HỒI.
  7. CỬU U THẬP LOẠI CHI TRUNG TẤT LY KHỔ HẢI.
  8. NGŨ PHONG THẬP VÕ MIỄN TẠO CƠ CẨN CHI TAI.
  9. NAM MẪU ĐÔNG GIAO CU TRIÊM NGHIÊU-THUẤN CHI NHỰT.
  10. CAN QUA VĨNH TỨC GIÁP MÃ HƯU CHINH.
  11. TRẬN BẠI THƯƠNG VONG CỤ SANH TỊNH ĐỘ.
  12. PHI CẦM TẨU THÚ LA VÕNG BẤT PHÙNG.
  13. LÃNG TỬ CÔ NHI TẢO HỒI HƯƠNG LÝ.
  14. VÔ BIÊN THẾ-GIỚI ĐỊA CỬU THIÊN TRƯỜNG.
  15. VIỄN CẬN ĐÀN-NA TĂNG VIÊN PHƯỚC-THỌ.
  16. THÁNH TÒA TRẤN TỊNH ĐẠO PHÁP TRƯỜNG-HƯNG.
  17. THỔ ĐỊA LONG THẦN AN TĂNG HỘ-PHÁP.
  18. PHỤ MẪU SƯ TRƯỞNG LỤC THÂN QUYẾN THUỘC.
  19. LỊCH ĐẠI TIÊN VONG ĐỒNG ĐĂNG GIÁC NGẠN.
  20. NAM-MÔ HUYỀN KHUNG CAO THƯỢNG-ĐẾ NGỌC-HOÀNG ĐẠI THIÊN-TÔN.
  21. NAM-MÔ DIÊU-TRÌ KIM-MẪU VÔ CỰC THIÊN-TÔN.
  22. NAM-MÔ TÂY-PHƯƠNG GIÁO-CHỦ THÍCH-CA MÂU-NI THẾ-TÔN.
  23. NAM-MÔ THÁI-THƯỢNG ĐẠO-TỔ TAM-THANH ỨNG-HÓA THIÊN-TÔN.
  24. NAM-MÔ KHỔNG-THÁNH TIÊN-SƯ HƯNG-NHO THẠNH THẾ THIÊN-TÔN.
  25. NAM-MÔ THƯỜNG CƯ NAM HẢI QUAN-ÂM NHƯ-LAI.
  26. NAM-MÔ LÝ ĐẠI-TIÊN-TRƯỞNG KIÊM GIÁO-TÔNG ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ.
  27. NAM-MÔ HIỆP-THIÊN ĐẠI-ĐẾ QUAN-THÁNH ĐẾ-QUÂN.
  28. NAM-MÔ GIA-TÔ GIÁO-CHỦ CỨU THẾ THIÊN-TÔN.
  29. NAM-MÔ THÁI-CÔNG TƯỚNG PHỤ QUẢN-PHÁP THIÊN-TÔN.
  30. NAM-MÔ TAM CHÂU BÁT BỘ HỘ-PHÁP THIÊN-TÔN.
  31. NAM-MÔ THẬP PHƯƠNG CHƯ PHẬT VẠN CHƯỞNG CHƯ TIÊN LIÊN-ĐÀI CHI HẠ.

HẾT

TÒA-THÁNH, ngày 8 tháng Chạp năm Quí-Sửu
(Dl, 31/12/1973)

HIẾN-PHÁP
CHƯỞNG-QUẢN HIỆP-THIÊN-ĐÀI

(Ấn ký)
TRƯƠNG-HỮU-ĐỨC

___________________________________________________
SAO-Y BẢN CHÁNH

NỘI-CHÁNH, ngày 6 tháng 1 Giáp-Dần,
(Dl, 28/01/1974)

NGỌC ĐẦU-SƯ
KIÊM-NHIỆM NGỌC CHÁNH PHỐI-SƯ

(Ấn ký)

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, ấn hành năm Nhâm Thân 1992
31. ... ... ...
32 .NAM MÔ SƠ HỘI LONG HOA THANH VƯƠNG ĐẠI HỘI, NHIÊN ĐĂNG CỔ PHẬT CHƯỞNG GIÁO THIÊN TÔN.
33. NAM MÔ NHỊ HỘI LONG HOA HỒNG VƯƠNG ĐẠI HỘI, DI-ĐÀ CỔ PHẬT CHƯỞNG GIÁO THIÊN TÔN.
34. NAM MÔ TAM HỘI LONG HOA BẠCH VƯƠNG ĐẠI HỘI, DI-LẠC CỔ PHẬT CHƯỞNG GIÁO THIÊN TÔN.
35. NAM MÔ LIỆT THÁNH ĐÀN TRÀNG HÒA NAM KHỂ THỦ.

 

 


 

KINH THẾ-ĐẠO

 

KINH THUYẾT PHÁP (1)

(Giọng Nam-Xuân)

    Trường phổ-tế khó-khăn lắm nỗi,
Cậy Thánh-tâm sửa đổi tánh phàm.
      Dìu đời với sức không kham,
  Mượn quyền thuyết-pháp đặng làm cơ-quan.
    Đại-Từ-Phụ hồng ân rưới khắp,
Trợ giúp con đặng lập nên công.
      Muốn cho thiên hạ đại-đồng,
  Lấy câu cứu khổ dụ lòng thương sanh.
    Nguyện lời nói biến hình bác-ái,
Nguyện chí-thành sửa máy tà gian.
      Nguyện cho khí tịnh thần an,
  Nguyện xin thính-giả hiểu đàng chơn-tu.
    Nguyện các Đấng đương chầu Bạch-Ngọc,
Giúp thông-minh lảu thuộc văn-từ,
      Cảm quang diêu động tâm tu,
  Khai cơ giải-thoát mở tù Phong-Đô.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 1 lần)
       

(1) Vị thuyết-pháp và đồng-nhi đọc.

 

KINH NHẬP HỘI

(Giọng Nam-Xuân)

    Trên Bạch Ngọc Chí-Tôn cao ngự,
Giữa Tây-Phương nắm giữ Thiên-Điều.
      Dưới Ngọc-Hư, kể bao nhiêu,
  Thiêng-Liêng các Đấng lập triều trị dân.
    Một nuôi nấng tinh-thần tinh-khiết,
Hai dạy răn cho biết tội tình.
      Ba lo trị thế thái-bình,
  Cộng chung Pháp-Luật Thiên-Đình chí công.
    Các con vốn trong vòng Thánh-thể,
Phép tu vi là kế tu-hành.
      Mở đường tích cực oai-linh,
  Cậy phương thuyết giáo vẽ thành kinh chơn.
    Đại-Từ-Phụ ra ơn dìu dẫn,
Diệt trí phàm: hờn, giận, ghét, ganh.
      Để tâm dưới ánh Chí-Linh,
  Soi tường chơn-lý chỉ rành chánh văn.
    Cơ chuyển thế khó khăn lắm nỗi,
Mượn Thánh-ân xây đổi cơ Đời.
      Thuận nhơn tâm ắt thuận Trời,
  Câu kinh Vô-Tự độ người thiện duyên.
    Nguyện Ơn Trên cho yên trí não,
Nguyện Phật, Tiên dạy bảo chơn linh.
      Mang danh Hội-Thánh đã đành,
  Nâng tay nhục thể xây hình Chí-Tôn.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 1 lần)

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, ấn hành năm Nhâm Thân 1992
... ... ...
Mạng danh Mang danh Hội-Thánh đã đành,
Nâng tay nhục thể xây hình Chí-Tôn.

 

KINH XUẤT HỘI

(Giọng Nam-Xuân)

    Nhờ Chí-Tôn dạy khôn lẽ Đạo,
Phật, Thánh, Tiên nhỏ máu nhiệt-thành.
      Vạn-linh đã hiệp Chí-linh,
  Hội xong cậy sức công-bình Thiêng-Liêng.
    Đã gầy dựng nên quyền giáo-hóa,
Phòng hiệp vầy trọn cả nguyên-nhân.
      Vẹn toàn phàm thể thánh-thân,
  Tùng theo Chơn-pháp độ lần chúng sinh.
    Các con cúi đầu trình Sư-Phụ, (cúi đầu)
Gìn từ tâm khuyến nhủ tăng-đồ.
      Đạo hư-vô, Sư hư-vô,
  Reo chuông thoát tục, phất cờ tuyệt-sinh.
    Cứ nương dưới máy linh cơ Tạo,
Gươm huệ đưa trị xảo trừ tà.
      Cửa Địa-Ngục, chóng lánh xa,
  Mượn hình Thánh-thể cất nhà cõi Thiên.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 1 lần)

 

KINH ĐI RA ĐƯỜNG

(Giọng Nam-Xuân)

    Thân vận-động trong trường thế-sự,
Đạo nhơn-luân cư xử cùng đời.
      Đòi phen lúc biến khi dời,
  Thân như bèo-bọt giữa vời linh-đinh.
    Dòm thấy cuộc kinh-dinh dưới mắt,
E trở tâm tánh bắt đổi thay.
      Con xin nương bóng Cao-Đài,
  Bước ra một bước cảm hoài căn tu.
    Gót chơn đưa rủi như sát mạng,
Vật hữu linh phàm nhãn khôn soi.
      Xin tha họa gởi tai rơi,
  Hồn linh nhờ có ơn Trời chứng minh.
    Đại-Từ-Phụ oai-linh bảo hộ,
Những chông gai quét ngõ ven đường,
      Đi an-khương, về an-khương,
  Cõi Thiên, cảnh tục cũng đường chung nhau.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 1 lần)

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, ấn hành năm Nhâm Thân 1992
... ... ...
Đi an-khương, về an-khương,
Cõi Thiên, cảnh tục cũng dường đường chung nhau.

 

KINH KHI VỀ

(Giọng Nam-Xuân)

    Cảm tạ ơn trên đầu dìu đỡ,
Từ khi đi khi trở lộn về.
      Đặng xong phận sự mọi bề,
  Tâm tu lại vững chẳng hề lảng-xao.
    Những nhớ bước động Đào buổi trước,
Những nhớ khi Hớn rước Diêu-Trì.
      Găn-Ta-Ca, đỡ bước đi,
  Ra thành Phật-Tổ gặp kỳ ly cung.
    Dẩy xe trâu Côn-Lôn trổi bánh,
Lý Lão-Quân mong lánh phong-trần.
      Núi Ô-Li-Vê để dấu chân,
  Gia-Tô Giáo-chủ giải phần hữu sanh.
    Con nguyện xin khuôn linh giúp sức,
Bước ta-bà giục thức huệ-quang.
      Lòn thân dưới phép sầu than,
  Tìm phương cứu khổ mở đàng giải căn.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 1 lần)

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, ấn hành năm Nhâm Thân 1992
... ... ...
Nhẫng Những nhớ bước động Đào buổi trước,
Nhẫng Những nhớ khi Hớn rước Diêu-Trì.
Căn-Ta-Ca Găn-Ta-Ca, đỡ bước đi,
... ... ...

 

KINH KHI ĐI NGỦ

(Giọng Nam-Xuân)

    Các vật-dục xảy ra một buổi,
Cả hành-vi lầm lỗi khôn ngừa.
      Sấp mình cúi lạy xin thưa, (lạy)
  Ơn trên Từ-Phụ cho chừa tội khiên.
    Trong giấc mộng nghỉ yên hồn phách,
Đấng Thiêng-Liêng năng mách bảo giùm.
      Bồng-Lai Cực-Lạc chỉ chừng,
  Đẩy đưa xác-tục dựa gần cõi linh.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 1 lần)

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, ấn hành năm Nhâm Thân 1992
Các vật-dục xảy qua xảy ra một buổi,
Cả hành-vi lầm lỗi khôn ngừa.
... ... ...

 

KINH KHI THỨC DẬY

(Giọng Nam-Xuân)

    Vừa mở mắt giựt mình thức dậy,
Con mang ơn cúi lạy Từ-Bi. (lạy)
      Tử sanh, sanh tử là chi?
  Gẫm trong giấc mộng cũng bì như nhau.
    Đây tới sáng xôn-xao với thế,
Nhẫng đua chen kiếm kế sanh nhai.
      Có thân giữa chốn đọa-đày,
  Đếm ba vạn sáu ngàn ngày khó-khăn.
    Xin Từ-Phụ ra ân cứu-độ,
Tăng huyền-linh giác-ngộ chí thành.
      Rõ phước đức biết tội tình,
  Nắm tâm đắp vững mặt thành Càn-Khôn.
    Trên nhờ có CHÍ-TÔN che-chở,
Thần, Thánh, Tiên, Phật hộ thân hèn.
      Đường tu nối bước cho quen,
  Xa trần tăm-tối cận đèn Thiêng-Liêng.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 1 lần)

 

KINH VÀO HỌC (1)

(Giọng Nam-Xuân)

    Đại Từ-Phụ xin thương khai khiếu,
Giúp trẻ thơ học hiểu văn-từ.
      Gần điều nên, lánh lẽ hư,
  Nương gươm thần huệ đặng trừ nghiệt căn.
    Dò đường Thánh khó khăn chẳng nại,
Tùng khuôn hồng nhỏ dại lớn khôn.
      Buộc yêu thương bạn đồng môn,
  Nghĩa nhân vẹn giữ xác hồn trăm năm.
    Nguyện tam-cang gìn tâm trọn đạo,
Nguyện ngũ-thường hiếu thảo làm khuôn.
      Nguyện nên hương hỏa tông đường,
  Nguyện thương lê-thứ trong trường công danh.
    Cầu khẩn đấng Chơn-linh nhập thể,
Đủ thông minh học lễ học văn.
      May duyên gặp hội Long-Vân,
  Thuyền thơ ngọn gió Các Đằng xuôi đưa.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 1 lần)
       
 

(1) Học trò đọc khi nhập học.

 

KINH VÀO ĂN CƠM

(Giọng Nam-Xuân)

    Giữa vạn vật con người một giống,
Phải uống ăn nuôi sống thây phàm.
      Từ-bi ngũ cốc đã ban,
  Dưỡng nuôi con trẻ châu toàn mảnh thân.
    Công Thần-Nông hóa dân buổi trước,
Dạy khôn-ngoan học chước canh điền.
      Nhớ ơn bảo mạng Huyền-Thiên,
  Con mong mượn xác đoạt quyền vĩnh-sanh.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 1 lần)

 

KINH KHI ĂN CƠM RỒI

(Giọng Nam-Xuân)

    Nguyện nhớ ơn Nông-Canh nhằn-nhọc,
Nguyện ơn người lúa thóc giã xay.
      Ngậm cơm ơn ngậm hằng ngày,
  Nên người con nguyện ra tài lợi sanh.
    Con cầu xin mảnh hình tráng kiện,
Giúp nên công xây chuyển cơ Đời.
      Trên theo pháp-luật Đạo Trời,
  Dưới thương sanh chúng một lời đinh-ninh. (1)
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (Niệm 1 lần)
       

(1) Mười bài kinh song thất lục bát nầy của Đức Hộ-Pháp đặt ra, có Đức Chưởng-Đạo Nguyệt-Tâm Chơn Nhơn chỉnh văn lại.

 

KINH HÔN-PHỐI

(Giọng Nam-Xuân)

    Cơ sanh-hóa Càn-Khôn đào-tạo,
Do Âm-Dương hiệp đạo biến-thiên.
      Con người nắm vững chủ-quyền,
  Thay Trời tạo thế giữ giềng nhơn-luân.
    Ở trước mắt Hồng-Quân định phận,
Đạo vợ chồng đã xứng nợ duyên.
      Trăm năm khá nhớ hương-nguyền,
  Chồng hay trọn nghĩa, vợ hiền trọn trinh.
    Đã cùng gánh chung tình hòa-ái,
Tua đút cơm, sửa dải làm duyên.
      Dưới trăng bóng ngọc còn nguyên,
  Ôm bình, bao tóc sang hèn cũng cam.
    Đường tổ-nghiệp nữ nam hương lửa,
Đốt cho nồng từ bữa ba sanh.
      Giữa đền để một tấc thành,
  Đồng sanh, đồng tịch đã đành nương nhau.
       
  Nam-Mô Cao-Đài . . . (niệm 3 lần)
     

NGUYỆT-TÂM CHƠN-NHƠN

 

KINH TỤNG KHI VUA THĂNG HÀ

(Giọng Nam-Ai)

    Ơn tấc đất ngọn rau nên nặng,
Đạo quân-vương chữ dặn nơi lòng.
      Thượng-hoàng sánh đức Chí-Công,
  Mặc phò lê-thứ khỏi vòng lao-lung.
    Giúp xã tắc tôi trung ra mặt,
Dẫy xa-thơ trổi nhặt Văn-minh.
      Giúp dân hưởng chữ thái-bình,
  Văn-ban võ-bá triều-đình đặc an.
    Nay gần đặng Ngọc-Hoàng Thượng-Đế,
Tìm Chí-linh trị thế cứu đời.
      Thiên-Tào Thánh ngự an ngôi,
  Cầu cho dân chúng khỏi hồi can qua.
    Bốn ngàn năm quốc-gia đã lập,
Cõi Nam Châu bồi đắp giang-sơn.
      Trụ tâm nâng đỡ quốc-hồn,
  Giữ bền đảnh-nghiệp vĩnh-tồn hậu lai.
    Kìa CHÍ-TÔN CAO-ĐÀI đương ngự,
Rưới hồng ân chặt giữ biên-cương.
      Sống thì định bá đồ vương,
  Qui Thiên dựng lại miếu đường thuở xưa.
       
     

ĐOÀN-THỊ-ĐIỂM

 

KINH TỤNG KHI THẦY QUI-VỊ

(Giọng Nam-Ai)

    Đường công-danh càng nhìn quảng-đại,
Nghĩa thầy trò nghĩ lại khó quên.
      Vái cùng Sư-Phụ linh thiêng,
  Chứng lòng đệ-tử đáp-đền ơn xưa.
    Dầu hoạn-lộ chưa vừa sở nguyện,
Dầu cửa quyền trọng tiếng chăn dân.
      Ơn cha sanh-hóa ra thân,
  Ơn Thầy giáo-huấn cũng gần như nhau.
    Khoa võ-môn dầu nhào qua khỏi,
Trương vi rồng học-hỏi nơi ai.
      Đẹp mình với vẻ cân-đai,
  Công thầy tô-điểm từ ngày ấu-xuân.
    Cõi hư-vô nay gần phước Thánh,
Xin châu-toàn đường hạnh môn-sinh.
      Cõi Thiên xin gởi chút tình,
  Rót chung ly hận gật mình đưa thương.
     
     

ĐOÀN-THỊ-ĐIỂM

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, ấn hành năm Nhâm Thân 1992
... ... ...
Ơn cha sanh-hóa ra thân,
Ơn Thầy huấn giáo giáo-huấn cũng gần như nhau.
... ... ...

 

KINH CẦU TỔ-PHỤ ĐÃ QUI-LIỄU

(Giọng Nam-Ai)

    Giọt máu mủ lưu-truyền tại thế,
Con nhẫng mong truyền kế lửa hương.
      Nguyện cùng Thất-Tổ xin thương,
  Cho bền gan tấc noi đường thảo ngay.
    Xưa chẳng đặng phước may gặp Đạo,
Nay phò-trì con cháu tu tâm.
      Dâng gươm huệ kiếm xin cầm,
  Chặt lìa trái-chủ đặng tầm ngôi Thiên.
    Dầu tội-chướng ở miền địa-giái,
Dầu oan-gia ở ngoại Càn-khôn.
      Dầu mang xác tục hay hồn,
  Nhớ cầu Từ-Phụ CHÍ-TÔN cứu nàn.
    Dầu đoạt vị ở an Thiên cảnh,
Dầu tái sanh mở cảnh siêu phàm.
      Nương thuyền Bát-Nhã cho an,
  Dìu chừng con cháu vào đàng nghĩa-nhân.
    Kìa lố bóng hồng ân bao phủ,
Cả thế gian đầy đủ đạo mầu.
      Âm-dương đôi nẻo như nhau,
  Cửu Huyền Thất Tổ giữ câu thọ-trì.
    Chốn Tây-phương đường đi thong thả,
Cõi Diêm-Cung tha quả vong căn.
      Tiêu-diêu định tánh nắm phan,
  Dò theo Cực-lạc đon đàng siêu-thăng.
    Nhớ nỗi hiếu khó ngăn nét thảm,
Tưởng nguồn ân đốt nắm tâm hương.
      Tấc lòng đòi-đoạn đau thương,
  Chơn mây vái với hương hồn hiển-linh.
     
     

ĐOÀN-THỊ-ĐIỂM

   
      (Tụng tiếp Kinh Cứu-Khổ)

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, ấn hành năm Nhâm Thân 1992
... ... ...
Chốn Tây-phương đường đi thong thả,
Cõi Diêm-Cung tha quả vong căn.
Tiêu-diêu định tánh nắm phan,
Do theo Cực-lạc đon đàng siêu-thăng.
... ... ...

 

KINH CỨU-KHỔ

 

Nam-mô Đại-Từ, Đại-Bi Quảng-Đại Linh Quan-Thế-Âm Bồ-Tát (đọc 3 lần).

Nam-mô cứu khổ, cứu nạn Quan-Thế-Âm Bồ-Tát, bá thiên vạn ức Phật, hằng hà sa số Phật, vô lượng công-đức Phật. Phật cáo A-Nan ngôn, thử kinh Đại-Thánh, năng cứu ngục tù, năng cứu trọng bịnh, năng cứu tam tai bá nạn khổ.

Nhược hữu nhơn tụng đắc nhứt thiên biến, nhứt thân ly khổ nạn, tụng đắc nhứt vạn biến, hiệp gia ly khổ nạn.

Nam-mô Phật lực oai, Nam-mô Phật lực hộ, sử nhơn vô ác tâm linh nhơn thân đắc độ, hồi quang Bồ-Tát, hồi thiện Bồ-Tát, A-Nậu Đại Thiên-Vương chánh điện Bồ-Tát, ma-kheo ma-kheo thanh-tịnh tỳ-kheo, quan-sự đắc tán tụng-sự đắc hưu, chư Đại Bồ-Tát, ngũ bá A-La-Hán, cứu hộ đệ tử ....(1).... nhứt thân ly khổ nạn, tự ngôn Quan-Thế-Âm anh-lạc bất tu giải, cần đọc thiên vạn biến tai-nạn tự nhiên đắc giải-thoát, tín-thọ phụng hành tức thuyết chơn-ngôn viết: Kim-Ba Kim-Ba-Đế, Cầu-Ha Cầu-Ha-Đế, Đa-La-Ni-Đế, Ni-Ha-La-Đế, Tì-Lê-Ni-Đế, Ma-Ha-Dà-Đế, Chơn-Lăng-Càn-Đế, Ta-Bà-Ha.

{Tụng xong 3 lần, rồi niệm câu chú:
Nam-Mô Cao-Đài Tiên-Ông Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát (3 lần)}

(1) Tên họ của bệnh nhơn.

 

KINH TỤNG CHA MẸ ĐÃ QUI-LIỄU

(Giọng Nam-Ai)

    Ơn cúc dục cù-lao mang nặng,
Lỡ thân côi mưa nắng khôn ngừa.
      Âm-dương cách bóng sớm trưa,
  Thon-von phận bạc không vừa hiếu thân.
    Đầu cúi lạy . . . (1) . . . linh-hiển,
Lễ muối dưa làm miếng hiếu-tâm.
      Ven Trời gởi chút tình thâm,
  Động lòng thương nhớ tuôn dầm lệ sa.
    Xin có tưởng ruột rà máu mủ,
Cõi hư-linh bao phủ ân-hồng.
      Cảnh Thiên noi bước Hóa-Công,
  Nắm phan Tiếp-Dẫn vào vòng Như-Lai.
    Chốn Hư-Linh chờ ngày hội-hiệp,
Dầu căn xưa quả kiếp dường bao.
      Thà cam vui chốn động Đào,
  Đừng vì nhớ trẻ trở vào phàm gian.
    Nuốt tiếng than đôi hàng lã-chã,
Tưởng đến điều nhơn quả mà đau.
      Xem thân tuổi hạc càng cao,
  E ra tử biệt Thiên-Tào định phân.
    Nối hương-lửa nhơn-luân đạo trọng,
Con gìn câu chết sống trọn nghì.
      Sấp mình cúi lạy Từ-Bi,
  Tiền khiên phụ-mẫu Tam-Kỳ xá ân.
    Xin . . . (2) . . . định thần định tánh,
Noi khuôn linh nẻo Thánh đưa chơn.
      Thong-dong cõi thọ nương hồn,
  Chờ con lập đức giúp huờn ngôi xưa.
    Chung ly-biệt con đưa tay rót,
Mối thương tâm chưa ngớt đeo sầu.
      Cha ở đâu, mẹ nơi đâu? (3)
  Tâm tang kính gởi một bầu lệ châu.
       
     

ĐOÀN-THỊ-ĐIỂM

       

(1) Song thân, hoặc phụ-thân hay mẫu-thân đã qui-liễu.
(2) Cha mẹ hay lịnh mẹ hoặc lịnh cha đã qui-liễu.
(3) Cha mẹ mà người nào còn sống thì đọc: cha ở đây hoặc mẹ ở đây. Nếu chết hết thì đọc nguyên văn.

 

KINH CẦU BÀ CON THÂN BẰNG
 CỐ HỮU ĐÃ QUI-LIỄU

(Giọng Nam-Ai)

    Khi dương-thế không phân phải quấy,
Nay hư-linh đã thấy hành-tàng.
      CHÍ-TÔN xá tội giải oan,
  Thánh, Thần, Tiên, Phật cứu nàn độ căn.
    Đã tầng chịu khó-khăn kiếp sống,
Định tâm-thần giải mộng Nam-Kha.
      Càn-khôn để bước Ta-bà,
  Đoạt cơ thoát-tục tạo nhà cõi Thiên.
    Ơn Tạo-hóa tha tiền khiên trước,
Đưa linh phan tiếp rước nguyên-nhân.
      Tiên phong phủi ngọn phất-trần,
  Liên-đài đỡ gót đến gần Tây-Phương.
    Cửa Cực-Lạc đon đường thẳng tới,
Tầm không môn đặng đợi Như-Lai.
      Hào-quang chiếu diệu Cao-Đài,
  May duyên nay đã gặp ngày siêu-sanh.
    Trụ nguyên-tánh hồn linh nhàn-lạc,
Cõi Đào-nguyên cỡi hạc thừa long.
      Lánh xa trược chất bụi hồng,
  Cung Tiên sớm tối vui vòng thung-dung.
    Nơi cung Ngọc học thông Đạo cả,
Chốn Hư-Vô Tạo-Hóa tìm cơ.
      Trên đường Thánh-đức lần dò,
  Trường-sanh mầu-nhiệm nơi lò Hóa-Công.
    Khá từ bỏ xa dòng bể khổ,
Diệt trần tình Cam-Lộ tẩy nhơ.
      Ngân-Kiều Bát-Nhã qua bờ,
  Đưa duyên để bước kịp giờ siêu-thăng.
  (Tụng kinh nầy rồi tiếp tụng DI-LẶC CHƠN-KINH)
       
     

ĐOÀN-THỊ-ĐIỂM

 

KINH TỤNG HUYNH-ĐỆ MÃN PHẦN

(Giọng Nam-Ai)

    Niềm thủ-túc đã đành vĩnh-biệt,
Càng nhớ nhau càng tiếc tình nồng.
      Thân nhau từ buổi lọt lòng,
  Chén cơm miếng cá cũng đồng chia nhau.
    Câu chọc ruột còn đau-đớn bấy,
Huống âm-dương hết thấy mặt nhau,
      Rẽ phân cốt nhục đồng-bào,
  Cảnh thiên cõi tục lẽ nào không thương.
    Thương những thuở huyên đường ôm-ấp,
Thương những khi co đắp chung mền.
      Thương hồi thơ bé tuổi tên,
  Thương cơn khôn lớn giữ bền nghĩa nhau.
    Rủi Thiên số Nam-Tào đã định,
Giải căn sinh xa lánh trần ai.
      Khá tua theo bóng CAO-ĐÀI,
  Nương mây thoát tục ra ngoài Càn-Khôn.
    Khối tình ái hương hồn dầu nhớ,
Tránh oan-gia giải nợ trầm-luân.
      Viếng thăm hôm sớm . . . . . (1)
  Trọng câu thần tỉnh ân cần cung Tiên.
    Gởi Tổ-Phụ ..(2).. hiền cung-phụng,
Gởi sắp em còn sống nơi đời.
      Rót chung ly biệt lưng vơi,
  Mảnh lòng tha-thiết đưa người bạn xưa.
     
     

ĐOÀN-THỊ-ĐIỂM

   

(1) Song thân, hoặc phụ thân hay là mẫu thân đã qui vị.
(2) Anh hay chị mãn phần.

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, ấn hành năm Nhâm Thân 1992
... ... ...
Viếng thăm hôm sớm . . . . . (1)
Trọn Trọng câu thần tỉnh ân cần cung Tiên.
... ... ...

 

KINH TỤNG KHI CHỒNG QUI-VỊ

(Giọng Nam-Ai)

    Niềm ân-ái thân hòa làm một,
Nghĩa sơ-giao khắc cốt ghi xương.
      Nhắn mưa gởi gió đưa thương,
  Từ đây thiếp tỏ đoạn-trường với ai?
    Càng nhớ đến những ngày hội ngộ,
Càng ngổn-ngang mối nợ tình-chung.
      Đã đành bẻ gãy chữ đồng,
  Hiển linh chứng-chiếu tấm lòng tiết-trinh.
    Dầu sống sót cũng đành gọi thác,
Vui chi còn man-mác tơ duyên.
      Thiệt-thòi cam phận thuyền-quyên,
  Chứa-chan giọt lệ cửu tuyền cuộn trôi.
    Chàng đã đặng phủi rồi nợ thế,
Xin hiển-linh giúp kẻ góa thân.
      Chở-che khỏi kiếp phong-trần,
  Gìn gương liệt-nữ hồng quần để soi.
    Chàng dầu đặng thảnh-thơi cảnh trí,
Hộ dâu con giữ kỹ nhơn-luân.
      Chàng dầu vinh-hiển cảnh Thần,
  Gởi trong giấc mộng đặng gần cùng nhau.
    Chàng dầu hưởng Thiên-Tào quyền phép,
Đỡ đường trần chật hẹp thân côi.
      Chàng dầu cung Ngọc an ngôi,
  Xin thương thân thiếp nợ đời còn mang.
    Gởi hồn phách cho chàng định số,
Gởi kiếp căn chàng mở dây oan.
      Thiếp cam bao tóc thờ chàng,
  Rót chung ly biệt đôi hàng lụy sa!
     
     

ĐOÀN-THỊ-ĐIỂM

 

KINH TỤNG KHI VỢ QUI-LIỄU

(Giọng Nam-Ai)

    Tưởng tơ-tóc cùng nhau trọn đạo,
Theo tùng phu sửa áo nâng khăn.
      Âm-dương đôi nẻo chia phân,
  Túy-sơn Vân-mộng mới gần đặng nhau.
    Khi để bước phòng đào lạnh ngắt,
Mảnh tàn-y dường nhắc nghi dung.
      Thấy cơn tử-biệt não-nùng,
  Hương thề tắt ngọn lạnh lùng tơ duyên.
    Càng nhớ đến lời nguyền buổi trước,
Thẹn non sông chưa ngớt tình nồng.
      Phụ-phàng chi bấy Hóa-công,
  Lòng nào mà lại cắt lòng không đau.
    Nối Tông-Tổ biết bao nghĩa trọng,
Cơ nghiệp còn lưu mộng tang-du.
      Mập-mờ nhắn nguyệt đêm thu,
  Kẻ còn người mất ai sầu hơn ai?
    Vói nhắn khách Dạ-đài có tưởng,
Vậy bóng hình để tướng nơi nao?
      Hay là lạc bước nguồn đào,
  Để thương cho mặt anh-hào đeo mang.
    Ngồi quạnh-quẻ đèn tàn một bóng,
Chịu góa thân tuyết đóng song thu.
      Bước Tiên nàng đã ngao-du,
  Đoái tình thương kẻ ôm cầu khóc duyên.
    Hay nàng đặng nhập miền Cực-Lạc,
Đoái tưởng người chưa thoát trầm-luân.
      Ngước trông níu ngọn phất-trần,
  Chổi Tiên quét sạch nợ-nần oan-gia.
    Dâng mảnh tâm gọi là của lễ,
Chén ly tình là lệ ái-ân.
      Dầu chi cũng nghĩa chí thân,
  Khối tình còn có một lần đây thôi.
     
     

ĐOÀN-THỊ-ĐIỂM

 

CHUNG

 


Số 58-BKD-TT
Kiểm-duyệt ngày 3 tháng 2 năm Nhâm-Tý
(Dl. 17-3-1972)

Trưởng-Ban Kiểm-Duyệt Kinh Sách
BẢO-ĐẠO HIỆP-THIÊN-ĐÀI
(ấn ký)


 

 


 

NGÀY VÍA, LỄ CÁC ĐẤNG

1 tháng 1 Lễ Giao-Thừa, rước Chư-Thánh Tiểu lễ
9-1 Vía Đức CHÍ-TÔN Đại lễ
15-1 Lễ Thượng-Ngươn Đại lễ
15-1 Lễ kỷ-niệm Ngài Trương Tiếp-Pháp Tiểu lễ
22-1 Lễ kỷ-niệm Ngài Trần Khai-Pháp Tiểu lễ
29-1 Lễ kỷ-niệm Phối-Thánh Bùi-Ái-Thoại Tiểu lễ
15-2 Vía Thái-Thượng Lão-Quân Đại lễ
19-2 Vía Đức Phật Quan-Âm Đại lễ
1-3 Lễ kỷ-niệm Đức Cao Thượng-Phẩm Tiểu lễ
26-3 Lễ kỷ-niệm Đức Cao Thượng-Sanh Tiểu lễ
8-4 Vía Đức Phật Thích-Ca Đại lễ
8-4 Lễ kỷ-niệm Bà Đầu-Sư Lâm-Hương-Thanh Tiểu lễ
10-4 Lễ kỷ-niệm Đức Hộ-Pháp qui Thiên Tiểu lễ
5-5  Lễ sanh-nhựt Đức Hộ-Pháp Tiểu lễ
11-5 Lễ kỷ-niệm Bà Đầu-Sư Nguyễn Hương-Hiếu Tiểu lễ
22-5 dl Vía Đức Nguyệt-Tâm Chơn-Nhơn Tiểu lễ
22-5 Lễ kỷ-niệm Ngài Cao Tiếp-Đạo Tiểu lễ
24-6 Vía Quan-Thánh Đế-Quân Đại lễ
15-7 Lễ Trung-Ngươn Đại lễ
21-7 Lễ kỷ-niệm Ngài Đầu-Sư Thái-Thơ-Thanh Tiểu lễ
15-8 Lễ HỘI-YẾN DIÊU-TRÌ Đại lễ
18-8 Vía Đức Lý Giáo-Tông Đại lễ
27-8 Vía Đức Khổng-Thánh Đại lễ
4-9 Lễ kỷ-niệm Ngài Bảo-Văn Pháp-Quân Tiểu lễ
7-9 Lễ kỷ-niệm Ngài Nguyễn Bảo-Pháp Tiểu lễ
1-10 Lễ kỷ-niệm Phối-Thánh Phạm-Văn-Màng Tiểu lễ
13-10 Lễ kỷ-niệm Đức Quyền Giáo-Tông Tiểu lễ
15-10 Lễ Hạ-Ngươn và
kỷ-niệm ngày khai Đạo Đ.Đ.T.K.P.Đ.
Đại lễ
19-10 Lễ kỷ-niệm Ngài Ca Bảo-Đạo Tiểu lễ
25-12 dl Vía Đức Chúa Jésus Đại lễ
24-12 Lễ đưa Chư Thánh Tiểu lễ

 


 

 

PHẦN HIỆU ĐÍNH

  TIỂU-DẪN: Phần ĐƯA LINH CỮU
    ... ... ...
Khi di linh-cữu ra ngoài đàng thì sắp đặt như sau nầy:
1) Bảng Đại-Đạo.
2) Hễ là Tín-Đồ tới Lễ-Sanh...
       
  Ấn bản năm 1975: không có ghi 1) Bảng Đại-Đạo.
Theo quyển QUAN HÔN TANG LỄ do Hội Thánh ấn hành năm Bính Thìn 1976 qui định trật tự đưa đám cho hàng phẩm từ Chánh Phối Sư đến Đạo hữu đều có ghi 1) Bảng Đại Đạo...
       
  Kinh Giải Oan:
    Câu 17: Khối trái chủ nhẫng lo vay trả,
       
  Ấn bản 1972: Khối trái chủ nhẫng...
Ấn bản 1975: Khối trái chủ nhẫn...
       
  Kinh Khi Thức Dậy:
    Câu 06: Nhẫng đua chen kiếm kế sanh nhai.
       
  Ấn bản 1972: Nhẫng đua chen ...
Ấn bản 1975: Nhẫn đua chen ...
       
  Kinh Cầu Tổ Phụ Đã Qui Liễu:
    Câu 02: Con nhẫng mong truyền kế lửa hương.
       
  Ấn bản 1972: Con nhẫng mong ...
Ấn bản 1975: Con nhẫn mong ...

 

 

 

NGÀY VÍA, LỄ CÁC ĐẤNG

Tham chiếu:
Đàn cơ tại Cung Đạo Đền Thánh đêm 25-06-Nhâm Tý (dl. 04/08/1972
Thánh Lịnh số: 60/TL ngày 11-07-Nhâm Tý (dl. 19/08/1972)
Thánh Lịnh số: 24/TL/CQ-HTĐ ngày 22-04-Ất Mão (dl. 01/06/1975)
     
1 tháng 1 Lễ Giao-Thừa, rước Chư-Thánh Tiểu lễ
9-1 Vía Đức CHÍ-TÔN Đại lễ
15-1 Lễ Thượng-Ngươn
Lễ kỷ niệm Chư vị Đầu-Sư Cửu-Trùng-Đài (Nam & Nữ)
Đại lễ
15-2 Vía Thái-Thượng Lão-Quân Đại lễ
19-2 Vía Đức Phật Quan-Âm Đại lễ
1-3 Lễ kỷ-niệm Đức Cao Thượng-Phẩm Tiểu lễ
26-3 Lễ kỷ-niệm Đức Cao Thượng-Sanh Tiểu lễ
8-4 Vía Đức Phật Thích-Ca
Lễ kỷ-niệm Chư Thánh Phước-Thiện (Nam & Nữ)
Đại lễ
10-4 Lễ kỷ-niệm Đức Hộ-Pháp qui Thiên Tiểu lễ
5-5  Lễ sanh-nhựt Đức Hộ-Pháp Đại lễ
22-5 dl Vía Đức Nguyệt-Tâm Chơn-Nhơn Tiểu lễ
24-6 Vía Quan-Thánh Đế-Quân Đại lễ
15-7 Lễ Trung-Ngươn
Lễ kỷ-niệm Chư Thánh Cửu-Trùng-Đài và Hiệp-Thiên-Đài (Nam & Nữ)
Đại lễ
15-8 Lễ HỘI-YẾN DIÊU-TRÌ Đại lễ
18-8 Vía Đức Lý Giáo-Tông Đại lễ
27-8 Vía Đức Khổng-Thánh Đại lễ
13-10 Lễ kỷ-niệm Đức Quyền Giáo-Tông Tiểu lễ
15-10 Lễ Hạ-Ngươn và kỷ-niệm ngày khai Đạo Đ.Đ.T.K.P.Đ.
Lễ kỷ-niệm Chư vị Thời-Quân Hiệp-Thiên-Đài
Đại lễ
25-12 dl Vía Đức Chúa Jésus Đại lễ
24-12 Lễ đưa Chư Thánh Tiểu lễ

 


 

 


 

MỤC LỤC

TIỂU-DẪN

KINH THIÊN-ĐẠO

KINH THẾ-ĐẠO

NGÀY VÍA VÀ LỄ CÁC ĐẤNG

PHẦN HIỆU ĐÍNH

NGÀY VÍA VÀ LỄ CÁC ĐẤNG (cập nhựt)

 

 

[ THƯ MỤC 4 ]

Ấn bản: 01-2014

KINH THIÊN-ĐẠO VÀ THẾ-ĐẠO
Ấn-hành năm ẤT-MÃO 1975
Hội Thánh Giữ Bản Quyền.

DOWNLOAD
E-book-PDF

Tài liệu kính biếu.
Thánh Thất New South Wales thực hiện.
Thư từ đóng góp ý kiến. Xin liên lạc: THÁNH THẤT N.S.W.
114-118 King Georges Road  WILEY PARK NSW 2195 - AUSTRALIA